CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động Hiệu quả được hiểu là “Kết quả thực của việc làm mang lại” (Nguyễn Văn Công, 2019).
Hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con người sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt được kết quả với mục đích của mình. Đây là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội từ sản xuất KD đến y tế, giáo dục, quốc phòng,. Từ đó cho thấy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau thì sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả và HQHĐ, chẳng hạn như: (i) Xét về mục tiêu của chủ thể khi thực hiện bao gồm hiệu quả nói chung và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội nói riêng; (ii) Xét theo thời gian thực hiện thì phân loại thành hiệu quả trong ngắn hạn và hiệu quả trong dài hạn; (iii) Xét về tính toán HQHĐ bao gồm HQHĐ tổng thể và HQHĐ của từng bộ phận cá biệt; (iv) Xét theo tính chất tác động thì phân loại thành hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp; (v) Xét trong quan hệ với phương thức xác định: thì chia thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối;… Vì vậy, rằng khi đánh giá một hoạt động nói chung cũng như hoạt động KD nói riêng, chúng ta không dừng lại ở việc xem xét các kết quả thu được 11 mà phải xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả thu được với các chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động đó, cụ thể: Đứng trên khía cạnh hiệu quả kinh tế, Huỳnh Đức Lộng (1999) cho rằng “Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội là phạm vi kinh tế phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian lao động xã hội trong việc tạo ra kết quả hữu ích cho xã hội công nhận. Nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu đặc trưng, xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về mặt kinh tế với chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất”.
Như vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thu được mà phải so sánh giữa kết quả mang lại được xã hội công nhận với các chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để thực hiện cho kết quả đó. Bên cạnh đó, cũng có tác giả cho rằng khi xem xét hiệu quả kinh tế cần xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian và được đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội. Đồng thời, nghiên cứu của Phạm Phúc (2004) cũng phát biểu thêm rằng “Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế trong công nghiệp là những phạm trù phức tạp, chúng phản ánh trình độ sử dụng các loại chi phí khác nhau cho sản xuất để tạo ra những kết quả mong muốn đáp ứng được mục tiêu kinh tế xã hội nào đó”. Đứng trên khía cạnh hiệu quả lao động của xã hội, các tác giả Nguyễn Sĩ Thịnh và cộng sự (1985), Nguyễn Ngọc Tiến (2017) đều cho rằng “Hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh đại lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng chi phí lao động xã hội đã bỏ ra”.
Như vậy, hiệu quả lao động của xã hội không đơn thuần chỉ là kết quả của hoạt động kinh tế, vì kết quả mới chỉ là biểu hiện về mặt hình thức mà hoạt động kinh tế thu được, Chúng ta cần xem xét kết quả đó được tạo ra bằng cách nào, với giá nào mới là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, vì nó thể hiện kết quả chất lượng của hoạt động. Do vậy, hiệu quả lao động xã 12 hội phải là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra và kết quả thu được phải là kết quả hữu ích, hiệu quả chứ không phải với bất cứ kết quả nào. Từ đó cho thấy, đánh giá hoạt động không chỉ đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng của hoạt động đó, xem người sản xuất đã tạo ra kết quả bằng cái gì và bao nhiêu. Kết quả cuối cùng có ích là những sản phẩm đã hoàn thành đáp ứng được mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội và được xã hội chấp nhận.
Như vậy, hiệu quả không chỉ đơn thuần là thu được kết quả tốt nhất với các chi phí bỏ ra thấp nhất về mặt kinh tế trong một thời kỳ nhất định mà hiệu quả đó còn phải gắn với lợi ích chung của toàn xã hội (hiệu quả xã hội) trong tương lai lâu dài. Còn đứng trên khía cạnh HQHĐ trong hoạt động KD của các DN, tác giả Nguyễn Văn Công (2019) cho rằng “Hiệu quả KD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt được kết quả cao nhất trong KD với chi phí thấp nhất”. Quan điểm này cho thấy rằng hiệu quả KD khác với kết quả KD và có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với kết quả KD. Kết quả KD bao gồm cả hiệu quả KD của DN và hiệu quả xã hội do DN tạo ra.
Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động KD, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng hoạt động KD để tạo ra kết quả đó. Từ đó, luận văn cho rằng: bản chất của HQHĐ là hiệu quả của nguồn lực, lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí nguồn lực, lao động xã hội. Do vậy, thước đo HQHĐ là sự tiết kiệm hao phí nguồn lực, lao động xã hội và tiêu chuẩn của HQHĐ là việc tối đa hóa kết quả hoạt động đạt được hoặc tối thiểu hóa chi phí bỏ ra dựa trên điều kiện nguồn lực, tài lực sẵn có. Tóm lại, từ bản chất của HQHĐ và những phân tích nêu trên, luận văn cho rằng “HQHĐ là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực 13 của DN vào hoạt động KD sao cho hao phí nguồn lực, tài lực là thấp nhất với lợi ích mang lại là cao nhất; lợi ích mang lại bao gồm lợi ích cho bản thân DN và lợi ích cho cả xã hội”.
Phân loại hiệu quả hoạt động HQHĐ là phạm trù lớn và mang tính tổng hợp; vì vậy, trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá HQHĐ rất đa dạng. Các cách phân loại về HQHĐ như sau: Thứ nhất, phân theo mối quan hệ với hoạt động KD, HQHĐ bao gồm: - Hiệu quả kinh tế: Là một đại lượng so sánh: so sánh giữa đầu vào và đầu ra hoặc so sánh giữa đầu ra với đầu vào, so sánh giữa chi phí KD bỏ ra với kết quả KD thu được hoặc chi phí KD bỏ ra với LN thu được,. - Hiệu quả xã hội: Là phép so sánh giữa quá trình kết hợp các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một mối tương quan cả về số lượng và chất lượng trong quá trình KD để tạo ra kết quả là sản phẩm, dịch vụ tiêu chuẩn cho tiêu dùng và giải quyết các vấn đề xã hội. Kết quả này có thể là một đại lượng vật chất có thể định lượng được như: Mức đóng góp của DN vào ngân sách Nhà nước thông qua nộp thuế hoặc tạo ra số công ăn việc làm cho người lao động với mức thu nhập BQ đầu người được chi trả,.; So sánh về chi phí bỏ ra so với sự thỏa mãn, hài lòng đạt được trong tiêu dùng (số lượng sản phẩm tiêu dùng, nhu cầu đi lại, giao tiếp,.); Có phạm vi xác định (tổng giá trị sản xuất, giá trị sản lượng hàng hóa, giá trị thực hiện, giao dịch,.
Hiệu quả xã hội này thiên về nhận định định tính như: Góp phần giải quyết nhu cầu tiêu dùng của người dân, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho người lao động hay cải thiện văn hóa, giáo dục, môi trường,. Thứ hai, phân theo mối quan hệ với các chính sách tài trợ cho hoạt động KD, HQHĐ bao gồm: 14 + Hiệu quả KD: Là công cụ quản lý KD của DN, không những cho biết trình độ sản xuất mà còn giúp tìm ra các biện pháp tăng kết quả và giảm chi phí KD, nhằm nâng cao hiệu quả. + Hiệu quả tài chính: Được hiểu là hiệu quả sản xuất KD hay hiệu quả DN, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một DN. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà DN nhận được với chi phí mà DN phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế.
Thứ ba, phân theo mức độ tổng hợp hay chi tiết trong hoạt động KD, HQHĐ bao gồm: + Hiệu quả tổng hợp: Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các DN là thu được lợi nhuận cao. Quá trình KD của các DN cũng là thước đo đánh giá hiệu quả đã đạt được. Vì vậy, hiệu quả tổng hợp được thể hiện ở số lợi nhuận DN thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn KD. Nói cách khác, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo KD của DN; + Hiệu quả chi tiết: Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu quả, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất KD trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt được.
Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả này đối với từng loại phương tiện khác nhau thường được sử dụng với nhiều tên gọi như: hiệu suất, năng suất, tỷ suất,.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động HQHĐ tại các DN chịu tác động từ nhiều nhân tố kể cả bên trong và bên ngoài của DN. Các nhân tố này tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý, sản xuất KD của DN. Các nhân tố này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến HQHĐ của DN.