Chương 1) Như vậy, Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí là một công cụ đánh giá các chương trình, dự án, là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà đầu tư. CBA sẽ đưa ra so sánh giữa lợi ích thu được do hoạt động đầu tư đem lại với những chi phí và tổn thất do việc thực hiện chúng gây ra. Hiện nay, CBA được phát triển rộng hơn gồm 2 khái niệm liên quan là phân tích tài chính và phân tích kinh tế: - Phân tích tài chính liên quan đến dòng tiền ra và dòng tiền vào. Dưới góc độ chủ đầu tư, người ta sử dụng phương pháp phân tích tài chính với mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Để đạt được điều đó, chủ đầu tư phải giảm đến mức tối thiểu chi phí sản xuất. một cách cố tình hay vô tình, chủ đầu tư đã quên đi khoản SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Thị Thanh Xuân chi phí môi trường mà đáng lẽ ra họ phải trả. Người ta gọi dạng phân tích này là phân tích dựa trên quan điểm của chủ đầu tư.
- Phân tích kinh tế tính toán dòng tiền vào và dòng tiền ra và cùng với những tác động tích cực và tiêu cực của môi trường và xã hội nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vừng. Người ta gọi dạng phân tích này là dựa trên quan điểm xã hội. Mục đích sử dụng CBA Đối với các nhà hoạch định chính sách, CBA là một công cụ thiết thực hỗ trợ cho việc ra quyết định có tính xã hội từ đó quyết định phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, tránh gây ra hiện tượng thất bại thị trường. Phương pháp CBA có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể ở giai đoạn hình thành, giai đoạn giữa hoặc giai đoạn cuối dự án.
Chính nhờ quan điểm này sẽ cung cấp cho chúng ta một lượng thông tin cơ bản về toàn bộ dự án hay những bài học kinh nghiệm rút ra khi tiến hành những dự án tương tự dưới nhiều góc độ khác nhau. Phương pháp CBA giúp lượng hóa toàn bộ những lợi ích cũng như chi phí mà mỗi phương án có thể đem lại, và từ kết quả phân tích đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp với mục tiêu đề ra. Kết quả của sự lựa chọn này sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn. Đây thực sự là một công cụ có hiệu quả cho việc ra quyết định.
Tuy nhiên, CBA cũng có một số hạn chế chưa khắc phục được vì vậy CBA chỉ có ý nghĩa bổ sung bằng chứng trong quá trình ra quyết định chứ không thể thay thế việc ra quyết định được. Phân loại Theo Boardman (2001), CBA có thể chia thành 4 loại: (1) Ex - ante CBA: Phân tích lợi ích chi phí được tiến hành trước khi dự án được thực hiện. Khi bắt đầu hình thành 1 dự án xây dựng chương trình thì lúc đó ta thực hiện CBA giúp lựa chọn các phương án tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách. (2) In medias res CBA: Phân tích lợi ích chi phí được tiến hành trong lúc dự án đang thực hiện.
Khi dự án bắt đầu đi vào xây dựng một giai đoạn thì người ta thực hiện CBA. Qua quá trình này thì sẽ giúp cho các nhà hoạch định và nhà thực thi có cơ sở để điều chỉnh những quyết định, phương án ban đầu sao cho phù hợp với tình hình hiện tại. (3) Ex - post CBA: Phân tích lợi ích chi phí được tiến hành sau khi dự án được thực hiện để xem lại lợi ích dự án mang lại có lớn hơn chi phí hay không. Khi dự án kết thức người ta thực hiện CBA.
Ở giai đoạn này sẽ có lợi hơn trong việc tính toán CBA vì những chi phí và lợi ích đều đã bộc lộ rõ. SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Thị Thanh Xuân (4) Ex - ante/ex - post CBA: Dạng kết hợp giữa Ex - ante CBA và Ex - post CBA, giúp so sánh giá trị trước và sau khi dự án được tiến hành. Với cách này, khi phân tích CBA cần thực hiện hai lần.
Một lần trước khi dự án bắt đầu thực hiện và một lần sau khi dự án kết thúc. Làm như vậy sẽ tốn nhiều chi phí và công sức nhưng có thể so sánh, đánh giá mức sai lệch để rút kinh nghiệm cho những dự án đầu tư khác. Các bước thực hiện CBA Phân tích lợi ích chi phí luôn luôn đi theo một nối tiếp các bước đơn giản, và toàn bộ qúa trình này dựa trên phương pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học. Phương pháp này được thực hiện như sau: Bước 1: Nhận dạng vấn đề Việc xác định vấn đề cần ra quyết định là bước đầu tiên trong CBA.
Ngoài ra cũng cần phải xác định phạm vi phân tích: Địa phương, vùng, tỉnh hay quốc gia. Một dự án đáng giá sẽ đóng góp vào phúc lợi kinh tế của quốc gia, có khả năng làm cho mọi người đều được lợi. Tuy nhiên không phải ai cũng được hưởng lợi từ dự án lại không nhất thiết là người chịu chi phí của dự án. Bước 2: Xác định các phương án giải quyết Đối với một dự án đầu tư thường có nhiều phương án để chọn, việc chọn lựa các phương án gặp phải một số khó khăn như sau: - Việc lựa chọn phương án tùy thuộc vào số tiêu chí cần xem xét đối với mỗi dự án cụ thể - Xác định quy mô dự án Bước 3: Nhận dạng các lợi ích và chi phí Một khi dự án đã được xác định, tất cả các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan sẽ giúp nhận dạng các tác động có thể có của dự án.
Trong bước này, tất cả các tác động trực tiếp hay gián tiếp, hữu hình hay vô hình đều phải được xác định. Lưu ý “tác động” bao hàm các nhập lượng và xuất lượng hay đúng hơn là các chi phí và lợi ích có thể có của dự án. Đồng thời cũng xác định các đơn vị đo lường các chi phí và lợi ích đó. Trong CBA, các nhà phân tích chỉ quan tâm đến các tác động có ảnh hưởng đến sự thỏa dụng của các cá nhân thuộc nhóm phạm vi quan tâm của dự án.
Những tác động không có giá trị gì đối với con người thì không được tính trong CBA. Nói cách khác, muốn xác định một “tác động” nào đó của dự án, người phân tích cần tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa tác động đó với sự thỏa dụng của những người thuộc phạm vi ảnh hưởng. SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Thị Thanh Xuân Bước 4: Lượng hóa các lợi ích và chi phí của dự án Sau khi xác định được tất cả các lợi ích và chi phí có thể có của dự án cũng như đơn vị đo lường tương ứng, người phân tích phải lượng hóa chúng trong suốt vòng đời của dự án cho từng phương án.
Tuy nhiên, nếu những tác động là rất khó lượng hóa hay đo lường được chính xác thì người phân tích có thể cung cấp các thông tin dạng mô tả về chúng. Ngoài ra cũng có những trường hợp cần đến các giả định nào đó để có thể ước lượng được. Bước 5: Quy ra giá trị bằng tiền các lợi ích và chi phí Đây là nhiệm vụ chính của các nhà kinh tế thực hiện CBA. Sau khi đã lượng hóa được các tác động của dự án người phân tích phải gán cho chúng một giá trị bằng tiền để có thể so sánh được.
Thực hiện bước này đòi hỏi phải có một lượng kiến thức nhất định về phương pháp phân tích lơi ích chi phí. Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình phân tích lợi ích - chi phí. Bước 6: Chiết khấu các lợi ích và chi phí về giá trị tương đương ở hiện tại Một dự án có các dòng lợi ích và chi phí phát sinh trong các thời điểm khác nhau không thể so sánh trực tiếp được, nên người phân tích phải tổng hợp chúng lại mới có thể so sánh được. Thông thường các lợi ích chi phí tương lai phải được chiết khấu để đưa về giá trị tương đương ở hiện tại để có cơ sở chung cho việc so sánh.
Một số tiêu chí có thể áp dụng để so sánh lợi ích và chi phí của một phương án cụ thể: hiện giá ròng (NPV), hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR), tỷ lệ lợi ích/ chi phí (B/C). Bước 7: Phân tích độ nhạy Phân tích độ nhạy đòi hỏi sự nới lỏng các giả định cho chúng thay đổi ở nhiều mức độ khác nhau có thể có và tính toán lại các lợi ích và chi phí. Nói cách khác, trong phân tích độ nhạy người ta phân tích thay đổi giá trị của một hay nhieuf biến quan trọng liên quan đến dòng ngân lưu kinh tế của dự án và xem kết quả (NPV, IRR, B/C,…) thay đổi như thế nào để có cơ sở quyết định lựa chọn. Bước 8: Đề xuất dựa trên kết quả phân tích Từ kết quả trên người phân tích nên đề xuất phương án được ưa thích nhất là phương án có NPV lớn nhất.
Đề xuất phương án tốt nhất phải khách quan dựa vào sự tối đa hóa hiệu quả hay phức lợi kinh tế chứ không phải phương án do mình ưa thích. Các chỉ tiêu phân tích kinh tế trong CBA - Giá trị hiện tại ròng (NPV – Net Present Value) Chỉ tiêu NPV cho biết quy mô lợi ích của dự án, được tính theo mặt bằng thời gian ở hiện tại, được xác định bằng chênh lệch giữa giá trị hiện tại các khoản thu (khấu hao và lợi nhuận sau thuế) với giá trị hiện tại các khoản chi phí đầu tư ban đầu. Công thức tính: SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Thị Thanh Xuân Trong đó: Bt (Benefit): lợi ích của dự án, tức bao gồm tất cả những gì mà dự án thu được (như doanh thu bán hàng, lệ phí thu hồi, giá trị thanh lý thu hồi,…) Ct (Cost): chi phí đầu tư của dự án, chi phí sửa chữa lớn r : tỷ suất chiết khấu n : số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án ) t : thời gian (t=0,1,…,n).