Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9310105) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Thông, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Trọng Hoài, mang tiêu đề: "Phân tích đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng sông Cửu Long và chính sách phát triển".
Về bối cảnh và tính cấp thiết, theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2021) được tác giả dẫn giải, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân 5,99%/năm; khu vực doanh nghiệp đóng góp trên 60% vào GDP. Tính đến cuối năm 2020, toàn quốc có 811.538 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 7,0% so với năm 2019; phân bố theo khu vực gồm: dịch vụ chiếm 66,8%, công nghiệp và xây dựng chiếm 31,8%, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 1,4%. Bình quân cả nước đạt 8,3 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, năm 2020 cả nước có 134.941 doanh nghiệp thành lập mới (giảm 2,3% so với năm 2019); 46.592 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký (tăng 62,2%); 17.464 doanh nghiệp giải thể (tăng 3,7%). Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam, năm 2019 tổng lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp đạt 889,9 nghìn tỷ đồng (giảm 0,5% so với năm 2018), tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi là 43,0% và tỷ lệ thua lỗ là 48,8%.
Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), số liệu của Tổng cục Thống kê (2020) cho thấy đến cuối năm 2019 toàn vùng có 55.089 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 3,8% so với năm 2018 (thấp hơn mức tăng bình quân cả nước). Tỷ trọng số doanh nghiệp của vùng so với cả nước giảm dần: năm 2017 là 7,5%, năm 2018 là 7,4% và năm 2019 còn 7,3%. Mật độ doanh nghiệp bình quân trên 1.000 dân của vùng năm 2019 ở mức thấp, đạt 3,2 doanh nghiệp/1.000 dân (so với mức 7,9 của cả nước). Năm 2019, vùng có 9.388 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 1,3% so với năm 2018), chiếm tỷ trọng 6,8% số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước (giảm so với mức 7,8% năm 2017 và 7,1% năm 2018). Tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động có lãi năm 2019 đạt 61,8% (giảm so với mức 68,6% năm 2018); tỷ lệ thua lỗ là 28,2% (tăng so với mức 26,0% năm 2018). Toàn vùng có 1.515 doanh nghiệp ngừng hoạt động (chiếm 5,3% cả nước) và 3.014 doanh nghiệp giải thể (tăng 55% so với năm 2018, chiếm 17,9% tổng số doanh nghiệp giải thể toàn quốc). Các chỉ số sinh lời có xu hướng giảm sút, điển hình là chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm từ 9,9% năm 2017 xuống 9,1% năm 2018.
Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành các cơ chế chính sách như: Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/03/2015; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/05/2016; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 06/06/2017; Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 (thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP); Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 21/05/2020. Trong bối cảnh hội nhập thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vùng ĐBSCL đối mặt với sự cạnh tranh không cân xứng về quy mô vốn, nhân lực và công nghệ. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố nội lực và môi trường chính sách thể chế trở nên cần thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ việc các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia mới nổi còn ít chú trọng tích hợp đồng thời ba cấu phần: đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh; chưa xử lý triệt để hiện tượng nội sinh bắt nguồn từ quan hệ khách hàng (mạng lưới kinh doanh); đồng thời thiếu vắng các kiểm định về vai trò chi phối của các chính sách phát triển cấp tỉnh đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu mối quan hệ giữa định hướng kinh doanh, đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại khu vực ĐBSCL, đồng thời đánh giá vai trò của chính sách phát triển trong mối quan hệ này. Bốn mục tiêu cụ thể được đánh số trong văn bản gồm:
- Mục tiêu 1: Xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh và chính sách phát triển đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại vùng ĐBSCL.
- Mục tiêu 2: Phân tích tác động của đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và chỉ ra sự chi phối của tác động nội sinh trong quan hệ khách hàng.
- Mục tiêu 3: Phân tích vai trò chính sách phát triển đến hiệu quả hoạt động của DNNVV tại vùng ĐBSCL.
- Mục tiêu 4: Gợi ý các chính sách phát triển doanh nghiệp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động các DNNVV vùng ĐBSCL.
Bốn câu hỏi nghiên cứu tương ứng được ký hiệu từ a đến d gồm:
- a) Đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vùng ĐBSCL?
- b) Vai trò biến nội sinh của quan hệ khách hàng có chi phối như thế nào đến đổi mới và định hướng kinh doanh đạt hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vùng ĐBSCL?
- c) Vai trò chính sách phát triển doanh nghiệp của địa phương sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vùng ĐBSCL?
- d) Các chính sách phát triển doanh nghiệp nào là phù hợp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động các DNNVV vùng ĐBSCL?
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa định hướng kinh doanh, đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại khu vực ĐBSCL, cùng vai trò của chính sách phát triển trong mối quan hệ này. Khách thể nghiên cứu là các doanh nghiệp đang hoạt động tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL. Phạm vi không gian gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu là giai đoạn các năm 2018 và 2020.
| Chỉ tiêu kinh tế - doanh nghiệp |
Cả nước (năm 2019-2020) |
Vùng ĐBSCL (năm 2019) |
| Tăng trưởng GDP bình quân 2016-2020 |
5,99%/năm |
- |
| Số doanh nghiệp đang hoạt động |
811.538 DN (năm 2020) |
55.089 DN (tăng 3,8%) |
| Tỷ trọng số doanh nghiệp so với cả nước |
100% |
7,3% (năm 2017: 7,5%; 2018: 7,4%) |
| Mật độ doanh nghiệp trên 1.000 dân |
8,3 DN (2020) / 7,9 DN (2019) |
3,2 DN |
| Số doanh nghiệp thành lập mới |
134.941 DN (năm 2020, giảm 2,3%) |
9.388 DN (tăng 1,3%, chiếm 6,8% cả nước) |
| Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi |
43,0% (năm 2019) |
61,8% (giảm so với mức 68,6% năm 2018) |
| Tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động thua lỗ |
48,8% (năm 2019) |
28,2% (tăng so với mức 26,0% năm 2018) |
| Số doanh nghiệp ngừng hoạt động |
46.592 DN (năm 2020, tăng 62,2%) |
1.515 DN (tăng 1,1%, chiếm 5,3% cả nước) |
| Số doanh nghiệp giải thể |
17.464 DN (năm 2020, tăng 3,7%) |
3.014 DN (tăng 55%, chiếm 17,9% cả nước) |
| Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) |
- |
9,1% năm 2018 (giảm so với 9,9% năm 2017) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, tác giả tổng hợp từ quan điểm nền tảng của Schumpeter (1934) về sự đổi mới như một "sự kết hợp mới" của các nguồn lực, phân biệt với sáng chế theo Malerba & Orsenigo (1997) và Diaconu (2011). Pavitt (1987) khẳng định hoạt động công nghệ gắn liền với cấu trúc doanh nghiệp. Schmookler (1966) và OECD/Eurostat (2005) phân tách đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình công nghệ. Patel & Pavitt (1997) chỉ ra công nghệ tạo lợi thế cạnh tranh về lợi nhuận và tốc độ phát triển. Walsh & Linton (2002), Archibugi & Coco (2005), Guan và cộng sự (2006), Azubuike (2013), Tsou và cộng sự (2014) và Deshpandé và cộng sự (2013) phân tích năng lực hấp thụ tri thức công nghệ để ứng phó với thị trường. Các kiểm định thực nghiệm của Subrahmanya (2011), Cruz-Cázares và cộng sự (2013), Haddad và cộng sự (2019), Wang (2019), Chege và cộng sự (2020) và nghiên cứu của Cinar, Altuntas, & Alan (2020) trên 252 doanh nghiệp xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ đều xác nhận đổi mới công nghệ tác động cùng chiều đến kết quả hoạt động doanh nghiệp.
Đối với mối quan hệ giữa đổi mới lao động và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, luận án kế thừa lý thuyết vốn con người của Schultz (1961), Becker (1962, 1964). Các nghiên cứu của Rosen (1986), Lall và cộng sự (1994), Green và cộng sự (1996), Harris & Helfat (1997), Power & Lundmark (2004), Simonen & McCann (2008), Ting & Lean (2009), Shih và cộng sự (2010), Baron (2011), Micah và cộng sự (2012), Bassey & Tapang (2012) và Konsolas (2018) chỉ rõ chất lượng vốn con người và kỹ năng tích lũy qua đào tạo tác động trực tiếp đến năng lực thích ứng và năng suất lao động. Các công trình thực nghiệm của Arthur (1994), Smith và cộng sự (2006), Nikandrou và cộng sự (2008), Nguyen & Truong (2011), Tessema (2014), Khan & Quaddus (2018), Githaiga (2019), Mertzanis & Said (2019), Hussain và cộng sự (2020), Kang & Na (2020), Tran & Vo (2020) và Siepel và cộng sự (2021) khẳng định đầu tư cho lao động thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Về định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, các công trình của Mintzberg (1973), Miller & Friesen (1978, 1982), Miller (1983), Covin & Slevin (1988, 1989), Zahra & Covin (1995), Lumpkin & Dess (1996, 2001), Knight (1997), Wiklund (1999), Lee & Peterson (2000), Kreiser và cộng sự (2002), Frese và cộng sự (2002), Wiklund & Shepherd (2003, 2005), Covin và cộng sự (2006), Tang và cộng sự (2007, 2015), Wang (2008), Li và cộng sự (2009), Rauch và cộng sự (2009), Davis và cộng sự (2010) cùng Covin & Wales (2012) đã phát triển khung đo lường định hướng kinh doanh qua các khía cạnh tự chủ, đổi mới, chấp nhận rủi ro, chủ động và cạnh tranh quyết liệt, chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa định hướng kinh doanh và hiệu quả doanh nghiệp.
Về tác động nội sinh và mạng lưới quan hệ khách hàng, các tác giả Hamilton & Nickerson (2003), Campa & Kedia (2002), Villalonga (2005) và Garcia-Castro và cộng sự (2010) nhấn mạnh rằng các quyết định chiến lược thường chứa đựng các yếu tố tiềm ẩn không quan sát được; nếu bỏ qua sẽ làm sai lệch các hệ số ước lượng trong mô hình hồi quy. Zhou và cộng sự (2005), Lee và cộng sự (2015), Boso và cộng sự (2013), Bell (2005), Gronum và cộng sự (2012), Ato Sarsah và cộng sự (2020) và Wang và cộng sự (2019) chứng minh mạng lưới kinh doanh và quan hệ khách hàng đóng vai trò điều hòa hoặc xúc tác. Về chính sách phát triển, North (1990) đặt nền tảng thể chế và Shen & Hou (2021) phân tích tác động của sự không chắc chắn chính sách đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
Luận án lựa chọn giải quyết 3 khoảng trống nghiên cứu cụ thể:
- Khoảng trống thứ nhất: Các nghiên cứu về đổi mới phần lớn tập trung ở các quốc gia phát triển; nghiên cứu đối với DNNVV ở các thị trường mới nổi như Việt Nam, cụ thể là vùng ĐBSCL - nơi có điều kiện phát triển doanh nghiệp còn hạn chế so với cả nước - vẫn còn thiếu vắng. Đặc biệt, việc tích hợp đồng thời cả ba thành tố: đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh trong cùng một mô hình thực nghiệm còn hiếm khi được thực hiện.
- Khoảng trống thứ hai: Các công trình trước đây (như Zhou và cộng sự, 2005; Boso và cộng sự, 2013) mới chỉ xem xét mạng lưới kết nối như một biến điều hòa hoặc biến thứ ba đơn thuần, chưa giải quyết được bản chất nội sinh phát sinh từ quan hệ khách hàng trong mối tương quan với các quyết định chiến lược và hiệu quả doanh nghiệp bằng kỹ thuật kinh tế lượng phù hợp.
- Khoảng trống thứ ba: Thiếu vắng các bằng chứng thực nghiệm kiểm định sự chi phối của các chính sách phát triển cấp địa phương (thể chế cấp tỉnh) đối với mối quan hệ giữa đổi mới, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại vùng ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 4 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết doanh nghiệp (Enterprise theory): Giải thích cơ chế tổ chức, kết hợp các nguồn lực và mục tiêu tối đa hóa giá trị hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Lý thuyết ra quyết định chiến lược của Mintzberg (1973): Cung cấp nền tảng xem định hướng kinh doanh là các chính sách, quy trình và thông lệ định hình hành vi chấp nhận rủi ro, tìm kiếm cơ hội và ra quyết định chiến lược của nhà quản lý thay mặt tổ chức.
- Lý thuyết vốn con người của Becker (1962, 1964) và Schultz (1961): Luận giải việc đầu tư nâng cao chất lượng lao động qua giáo dục, đào tạo chính quy, đào tạo tại chỗ ("vừa học vừa làm") và bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật giúp gia tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.
- Lý thuyết thể chế của North (1990): Khẳng định thể chế và các quy tắc chính thức (chính sách, pháp luật, môi trường quản lý nhà nước) định hình khung khổ khuyến khích và giảm thiểu chi phí giao dịch cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các khái niệm chính được định nghĩa và chuẩn hóa trong khung phân tích gồm:
- Đổi mới công nghệ (Technological Innovation - TI): Khả năng tiếp cận, hấp thụ kiến thức bên ngoài chuyển hóa thành kỹ năng, kỹ thuật hoặc quy trình sản xuất độc đáo nhằm cải tiến hoặc tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới (Patel & Pavitt, 1997; Walsh & Linton, 2002; Archibugi & Coco, 2005).
- Đổi mới lao động (Labor Innovation - LI): Phạm trù phản ánh việc đầu tư cho lao động thông qua đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng chuyên môn, tạo sự lan tỏa tri thức nội bộ và cải thiện hiệu quả làm việc (Becker, 1962; Schultz, 1961; Lall và cộng sự, 1994; Tran & Vo, 2020).
- Định hướng kinh doanh (Entrepreneurial Orientation - EO): Tập hợp các hành vi tổ chức bao gồm 5 khía cạnh theo Lumpkin & Dess (1996): Tự chủ (autonomy), sẵn sàng đổi mới (innovativeness), chấp nhận rủi ro (risk taking), chủ động trước cơ hội (proactiveness) và cạnh tranh quyết liệt (competitive aggressiveness).
- Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Firm Performance - FP): Được tiếp cận đa chiều qua các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính phản ánh mức độ đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh (Taouab & Issor, 2019; Lebas & Euske, 2006).
- Chính sách phát triển và quan hệ khách hàng (Customer Relationship - CR): Chính sách phát triển địa phương phản ánh qua môi trường hỗ trợ, tính năng động và đào tạo; quan hệ khách hàng phản ánh mạng lưới giao dịch và chia sẻ thông tin thị trường của doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của luận án là phương pháp định lượng, sử dụng mô hình hồi quy mở rộng (Extended Regression Model - ERM) (Drukker, 2017). Luận án không dùng hồi quy bội thông thường (OLS) do OLS không kiểm soát được hiện tượng nội sinh bắt nguồn từ các yếu tố tiềm ẩn không quan sát được (văn hóa doanh nghiệp, năng lực tiềm ẩn, kỳ vọng quản lý), dẫn đến sai lệch và nhiễu hệ số ước lượng (Hamilton & Nickerson, 2003; Garcia-Castro và cộng sự, 2010). Biến quan hệ khách hàng (CR) được đưa vào mô hình dưới dạng biến nội sinh.
Hệ thống biến công cụ (Instrumental variables) phục vụ nhận dạng và ước lượng biến nội sinh bao gồm:
- Loại hình doanh nghiệp;
- Ngành sản xuất của doanh nghiệp;
- Quy mô doanh nghiệp (quy mô lao động);
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu được tích hợp từ 3 nguồn dữ liệu khảo sát giai đoạn 2018 và 2020:
- Dữ liệu Điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê trên phạm vi cả nước, chiết xuất mẫu doanh nghiệp thuộc 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL.
- Dữ liệu Điều tra công nghệ đối với các DNNVV.
- Dữ liệu khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) hàng năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thu thập đánh giá của doanh nghiệp tại 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL về các chính sách phát triển của chính quyền địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập cơ sở đề tài thông qua bức tranh kinh tế vĩ mô và thực trạng doanh nghiệp cả nước cũng như vùng ĐBSCL. Tác giả chỉ ra tốc độ phát triển doanh nghiệp tại ĐBSCL chậm hơn bình quân cả nước, tỷ trọng số doanh nghiệp và số doanh nghiệp thành lập mới sụt giảm liên tục trong giai đoạn 2017-2019, mật độ doanh nghiệp trên 1.000 dân thấp (3,2 so với 7,9), số lượng doanh nghiệp giải thể năm 2019 tăng cao (3.014 doanh nghiệp, chiếm 17,9% cả nước). Chương này xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu, công bố 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu (a, b, c, d), đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian (13 tỉnh ĐBSCL), phạm vi thời gian (2018, 2020), phương pháp định lượng ERM xử lý biến nội sinh và bố cục gồm 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Chương 2 tập trung phân tích nội hàm học thuật của các khái niệm: đổi mới công nghệ (TI), đổi mới lao động (LI), định hướng kinh doanh (EO), hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (FP) và chính sách phát triển. Tác giả xây dựng Bảng 2.1 tổng hợp các khái niệm từ các tác giả kinh điển (Schumpeter, 1934; Becker, 1962; Mintzberg, 1973; Miller, 1983; Lumpkin & Dess, 1996; Patel & Pavitt, 1997). Bốn nền tảng lý thuyết được hệ thống hóa gồm lý thuyết doanh nghiệp, lý thuyết ra quyết định chiến lược, lý thuyết vốn con người và lý thuyết thể chế. Chương này tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm trước, phân tích tính tất yếu phải giải quyết biến nội sinh trong nghiên cứu chiến lược, và đề xuất Khung phân tích (Hình 2.1) thể hiện tác động của TI, LI, EO lên FP dưới sự chi phối nội sinh của CR và tác động trực tiếp của chính sách phát triển địa phương.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm với quy trình từ khung lý thuyết đến kiểm định mô hình kinh tế lượng. Tác giả phát triển hệ thống giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa TI, LI, EO và FP có sự chi phối của CR, cùng tác động của chính sách phát triển. Thiết kế gồm 2 mô hình thực nghiệm: Mô hình 1 phân tích tác động của TI, LI, EO lên FP với CR là biến nội sinh; Mô hình 2 phân tích sự chi phối của chính sách phát triển địa phương lên FP qua quan hệ khách hàng. Bảng 3.1 tổng hợp danh mục các biến trong mô hình. Chương 3 trình bày chi tiết quy trình kết hợp 3 nguồn dữ liệu (Tổng cục Thống kê, điều tra công nghệ DNNVV, điều tra PCI của VCCI), nêu cơ sở lý thuyết ước lượng biến nội sinh và trình bày thuật toán mô hình hồi quy mở rộng ERM cùng 4 biến công cụ (loại hình DN, ngành sản xuất, quy mô DN, vốn đầu tư xây dựng cơ bản).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 cung cấp phân tích thực trạng DNNVV vùng ĐBSCL thông qua hệ thống bảng thống kê từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.14 (số lượng, mật độ, tỷ trọng thành lập mới, giải thể, nguồn vốn, nợ, lao động, doanh thu, lợi nhuận, ROS, ROA, ROE). Bảng 4.15 và Bảng 4.18 trình bày kết quả thống kê mô tả các biến. Bảng 4.16, 4.17 và 4.19 trình bày kết quả ước lượng mô hình ERM và kiểm định giả thuyết.
Các phát hiện thực nghiệm cốt lõi gồm:
- Đổi mới công nghệ (TI), đổi mới lao động (LI) và định hướng kinh doanh (EO) khi kết hợp đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (FP). Thứ tự mức độ tác động được xác định: đổi mới công nghệ giữ vị trí tác động đi đầu, kế tiếp là đổi mới lao động và sau cùng là định hướng kinh doanh.
- Kiểm định kinh tế lượng trong mô hình ERM chứng minh quan hệ khách hàng (CR) thực sự có tính nội sinh, tạo ra sự chi phối mạnh mẽ trong mối quan hệ giữa TI, LI, EO và FP.
- Tác động của biến nội sinh có ý nghĩa phổ biến đối với các doanh nghiệp, thể hiện rõ nét ở các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực - thực phẩm (food processing firm).
- Sự chi phối của biến nội sinh CR thể hiện rõ rệt ở nhóm doanh nghiệp không phải tư nhân (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh giữa nhà nước và nước ngoài mà nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phần).
- Xét theo quy mô lao động, sự chi phối của biến nội sinh thể hiện rõ ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng không thể hiện rõ ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ.
- Chính sách phát triển cấp tỉnh (đo lường qua các chỉ số thành phần PCI) gồm: chính sách năng động của chính quyền địa phương, chính sách dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và chính sách đào tạo lao động địa phương có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đóng vai trò tạo điều kiện cho các hoạt động đổi mới và định hướng kinh doanh.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 đúc kết kết quả nghiên cứu theo 5 nội dung: kết luận về thực trạng DNNVV ĐBSCL; kết luận về lý thuyết và khung phân tích; kết luận về tính phù hợp của phương pháp ERM trong xử lý biến nội sinh; kết luận về kiểm định các giả thuyết nghiên cứu; và đối chiếu kết quả nghiên cứu với 3 khoảng trống nghiên cứu đã xác lập. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra 4 nhóm gợi ý chính sách: chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ; chính sách thúc đẩy đổi mới lao động; chính sách mở rộng mạng lưới quan hệ khách hàng; và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của chính quyền địa phương. Cuối chương trình bày các hạn chế về dữ liệu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp:
- Xây dựng khung phân tích tích hợp đồng thời ba cấu phần: đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh tác động đến hiệu quả hoạt động của DNNVV trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi, bổ sung cho các nghiên cứu đơn lẻ trước đây.
- Vận dụng lý thuyết kinh tế lượng để luận giải và kiểm định thành công hiện tượng nội sinh của biến quan hệ khách hàng (CR) trong nghiên cứu quản trị chiến lược, chỉ ra sự chi phối của mạng lưới kinh doanh đối với các quyết định đổi mới của doanh nghiệp mà các mô hình hồi quy OLS bỏ sót.
- Vận dụng lý thuyết thể chế của North (1990) vào cấp độ địa phương, kiểm chứng thực nghiệm vai trò của các chính sách phát triển cấp tỉnh (tính năng động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động) trong việc tạo lập môi trường tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp các phát hiện:
- Hệ thống hóa dữ liệu thực trạng phát triển, năng lực tài chính, hiệu quả sinh lời và tình hình ngừng hoạt động, giải thể của DNNVV tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn 2017-2020.
- Xác định thứ tự ưu tiên tác động đến hiệu quả doanh nghiệp: đổi mới công nghệ là yếu tố dẫn đầu, tiếp theo là đổi mới lao động, sau cùng là định hướng kinh doanh.
- Phát hiện đặc thù chi phối của yếu tố nội sinh quan hệ khách hàng theo phân ngành và loại hình: tác động mạnh ở ngành chế biến lương thực - thực phẩm; nhóm doanh nghiệp nhà nước hoặc liên doanh có vốn nhà nước chi phối trên 50%; nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa (không có ý nghĩa rõ rệt ở nhóm siêu nhỏ).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất gồm 4 nhóm chính:
- Nhóm chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ: Hỗ trợ DNNVV tiếp cận công nghệ mới, kết nối các viện nghiên cứu, ứng dụng quy trình sản xuất tiên tiến nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh.
- Nhóm chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới lao động: Khuyến khích doanh nghiệp tăng cường kinh phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động, gắn kết đào tạo với nhu cầu sản xuất thực tế.
- Nhóm chính sách mở rộng mạng lưới quan hệ khách hàng cho doanh nghiệp: Tạo kênh xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng mạng lưới kinh doanh chính thức và phi chính thức để khai thác thông tin thị trường.
- Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong phát triển doanh nghiệp: Tiếp tục cải thiện các chỉ số thành phần PCI, đặc biệt là tính tiên phong, năng động của lãnh đạo tỉnh, nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực nghiệm trong không gian địa lý thuộc 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, chưa mở rộng so sánh với các vùng kinh tế trọng điểm khác trên cả nước. Về thời gian, dữ liệu nghiên cứu sử dụng được thu thập trong các năm 2018 và 2020, phản ánh giai đoạn trước và bắt đầu bùng phát dịch Covid-19, chưa bao quát chuỗi thời gian dài sau đại dịch. Dữ liệu khảo sát công nghệ và lao động chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê và khảo sát PCI của VCCI, chưa đi sâu vào từng chu trình kỹ thuật chi tiết của từng dòng sản phẩm chuyên biệt.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình trong tương lai có thể mở rộng mô hình phân tích cho các vùng kinh tế khác hoặc so sánh liên vùng giữa ĐBSCL với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Đồng thời, việc cập nhật chuỗi dữ liệu bảng giai đoạn phục hồi kinh tế bình thường mới và đi sâu phân tích cơ chế nội sinh của quan hệ khách hàng ở từng tiểu ngạch công nghiệp chế biến sâu sẽ mang lại các đánh giá bổ sung cho tài liệu học thuật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh và Kinh tế học: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn chỉnh từ việc liên kết các lý thuyết nền tảng (lý thuyết doanh nghiệp, lý thuyết quyết định chiến lược, lý thuyết vốn con người, lý thuyết thể chế) đến việc xử lý hiện tượng nội sinh bằng mô hình hồi quy mở rộng (ERM) và kỹ thuật lựa chọn biến công cụ.
- Đối với giảng viên và các nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp khung tài liệu tham khảo chi tiết về hệ thống hóa các khái niệm đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh cùng danh mục tài liệu tham khảo đa dạng trong và ngoài nước.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại 13 tỉnh ĐBSCL (UBND các tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ): Báo cáo thực trạng và các kiểm định tác động của chính sách phát triển (PCI) là cơ sở thực chứng để đánh giá hiệu lực điều hành, thiết kế các chương trình trợ giúp DNNVV phù hợp với đặc thù vùng.
- Đối với các hiệp hội doanh nghiệp và lãnh đạo DNNVV: Các kết quả thực nghiệm về thứ tự tác động của công nghệ, lao động và mạng lưới khách hàng cung cấp căn cứ để doanh nghiệp phân bổ hợp lý nguồn lực đầu tư trong điều kiện vốn hạn chế.
Câu hỏi thường gặp
Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để giải quyết vấn đề biến nội sinh trong mô hình?
Luận án sử dụng mô hình hồi quy mở rộng (ERM - Extended Regression Model) thay vì mô hình hồi quy bội thông thường (OLS), nhằm kiểm soát và xử lý các yếu tố tiềm ẩn không quan sát được gây sai lệch hệ số ước lượng. Mô hình sử dụng 4 biến công cụ gồm: loại hình doanh nghiệp, ngành sản xuất, quy mô doanh nghiệp và vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Biến nội sinh quan hệ khách hàng (CR) có vai trò và chi phối như thế nào trong luận án?
Quan hệ khách hàng được kiểm định là biến nội sinh đóng vai trò chi phối quan trọng. Sự hiện diện của yếu tố này làm thay đổi mức độ tác động của đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, giúp phản ánh đúng thực tế quyết định chiến lược của nhà quản lý thay vì bị nhiễu do bỏ sót biến.
Thứ tự mức độ tác động của ba yếu tố đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh đến hiệu quả doanh nghiệp được xác định ra sao?
Kết quả ước lượng mô hình ERM tại Chương 4 chỉ ra rằng cả ba yếu tố đều tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (FP), trong đó đổi mới công nghệ (TI) giữ vai trò tác động đi đầu, tiếp theo là đổi mới lao động (LI) và sau cùng là định hướng kinh doanh (EO).
Những nhóm chính sách phát triển địa phương nào có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của DNNVV ĐBSCL?
Luận án chỉ ra ba nhóm chính sách thành phần thuộc chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) có tác động tích cực rõ rệt gồm: chính sách năng động của chính quyền địa phương, chính sách dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và chính sách đào tạo lao động tại địa phương.
Đặc điểm loại hình và quy mô doanh nghiệp nào tại ĐBSCL chịu sự chi phối mạnh nhất bởi biến nội sinh quan hệ khách hàng?
Sự chi phối của biến nội sinh thể hiện rõ nét nhất ở các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực - thực phẩm; các doanh nghiệp thuộc loại hình phi tư nhân (doanh nghiệp nhà nước hoặc liên doanh có nhà nước nắm trên 50% cổ phần); và các doanh nghiệp có quy mô lao động thuộc nhóm nhỏ và vừa (không thể hiện rõ ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Thông đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kiểm định thực nghiệm thành công mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL. Bằng việc ứng dụng mô hình hồi quy mở rộng (ERM), nghiên cứu đã chứng minh vai trò nội sinh chi phối của quan hệ khách hàng cũng như tác động tích cực từ các chính sách phát triển cấp tỉnh (tính năng động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động). Các phát hiện khẳng định vị trí dẫn đầu của đổi mới công nghệ, tiếp sau là đổi mới lao động và định hướng kinh doanh, đặc biệt rõ rệt tại các doanh nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Đây là công trình nghiên cứu kinh tế phát triển có giá trị tham khảo học thuật về phương pháp xử lý biến nội sinh và cung cấp căn cứ thực chứng cho việc hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp tại vùng ĐBSCL.