Tổng quan về luận án
Bối cảnh phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016–2020 ghi nhận mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,99%/năm, trong đó khu vực doanh nghiệp đóng góp hơn 60% vào GDP cả nước (Tổng cục Thống kê, 2021). Mặc dù đến cuối năm 2020 cả nước có 811.538 doanh nghiệp đang hoạt động với mật độ bình quân 8,3 doanh nghiệp/1.000 dân, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về mật độ phát triển và sức khỏe tài chính. Tính đến cuối năm 2019, toàn vùng ĐBSCL chỉ có 55.089 doanh nghiệp hoạt động (chiếm 7,3% cả nước, liên tục sụt giảm từ mức 7,5% năm 2017 và 7,4% năm 2018), đạt mật độ khiêm tốn 3,2 doanh nghiệp/1.000 dân so với mức 7,9 của cả nước (Tổng cục Thống kê, 2020). Tỷ lệ giải thể của doanh nghiệp ĐBSCL năm 2019 tăng tới 55% so với năm 2018 (đạt 3.014 doanh nghiệp, chiếm tới 17,9% tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước), trong khi chỉ số sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) sụt giảm từ 9,9% (2017) xuống 9,1% (2018). Bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) cùng cú sốc đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu đặt các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vùng ĐBSCL trước áp lực cạnh tranh không cân xứng về vốn, nhân lực và trình độ kỹ thuật.
Tính tiên phong của luận án tiến sĩ kinh tế do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Thông thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Trọng Hoài (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh - UEH, 2022) thể hiện ở việc xây dựng một mô hình tích hợp đồng thời ba trụ cột chiến lược: Đổi mới công nghệ (Technological Innovation - TI), Đổi mới lao động (Labor Innovation - LI) và Định hướng kinh doanh (Entrepreneurial Orientation - EO) tác động đến Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Firm Performance - FP), đặt dưới sự điều tiết của Thể chế chính sách phát triển cấp tỉnh và sự chi phối mang tính cấu trúc của Biến nội sinh Quan hệ khách hàng (Customer Relationship - CR).
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) mà luận án tập trung giải quyết xuất phát từ thực trạng phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường mới nổi thường phân tích đơn lẻ từng yếu tố đổi mới (Arthur, 1994; Subrahmanya, 2011; Lumpkin & Dess, 2001; Tang và cộng sự, 2007) hoặc sử dụng thang đo định tính Likert dễ bị thiên lệch bởi thái độ chủ quan của người trả lời (Arthur, 1994; Chege và cộng sự, 2020; Davis và cộng sự, 2010; Wang, 2019). Đặc biệt, các nghiên cứu trước đây xem mạng lưới kinh doanh hoặc quan hệ khách hàng là biến ngoại sinh hoặc biến điều tiết thuần túy (Zhou và cộng sự, 2005; Boso và cộng sự, 2013; Lee và cộng sự, 2015), bỏ qua hiện tượng nội sinh (endogeneity bias) phát sinh từ các quyết định chiến lược và năng lực quản trị tiềm ẩn (Hamilton & Nickerson, 2003; Garcia-Castro và cộng sự, 2010).
Luận án thiết lập hệ thống 04 câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh có ảnh hưởng đồng thời như thế nào đến hiệu quả hoạt động của DNNVV vùng ĐBSCL? (Giả thuyết H1, H2, H3: TI, LI, EO tác động tích cực đến FP).
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Yếu tố quan hệ khách hàng đóng vai trò biến nội sinh chi phối như thế nào đến mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp? (Giả thuyết H4: Quan hệ khách hàng mang tính nội sinh và chi phối đáng kể đến hàm sản xuất/hiệu quả).
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Chính sách phát triển doanh nghiệp của chính quyền địa phương tác động trực tiếp và điều tiết như thế nào đến hiệu quả hoạt động của DNNVV? (Giả thuyết H5: Tính năng động, dịch vụ hỗ trợ và đào tạo lao động của địa phương thúc đẩy hiệu quả doanh nghiệp).
- Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Cần định hình những giải pháp và cơ chế chính sách cụ thể nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực DNNVV vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới?
Khung lý thuyết của công trình được định hình trên sự giao thoa của 04 nền tảng lý thuyết kinh điển: Lý thuyết kinh tế học phát triển và đổi mới của Schumpeter (1934), Lý thuyết ra quyết định chiến lược (Mintzberg, 1973), Lý thuyết vốn con người (Becker, 1962, 1964; Schultz, 1961) và Lý thuyết thể chế (North, 1990). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng ĐBSCL với dữ liệu điều tra doanh nghiệp đa thời gian (2018, 2020) được tích hợp liên kết với dữ liệu điều tra công nghệ và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về hành vi chiến lược của doanh nghiệp cho thấy 04 dòng học thuyết chính vận động song song:
Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Kế thừa quan điểm của Schumpeter (1934) về sự "phá hủy sáng tạo" và tái tổ hợp nguồn lực, Patel & Pavitt (1997) cũng như Walsh & Linton (2002) khẳng định công nghệ là nguồn lực nền tảng giúp doanh nghiệp thích ứng linh hoạt trước biến động môi trường. Các nghiên cứu thực nghiệm của Subrahmanya (2011), Cruz-Cázares và cộng sự (2013), Wang (2019), và Chege và cộng sự (2020) đồng thuận rằng đầu tư vào quy trình và công nghệ sản xuất tạo ra động lực tăng trưởng cốt lõi cho doanh nghiệp.
Dòng nghiên cứu thứ hai xem xét vai trò của vốn con người và đổi mới lao động. Xuất phát từ nền tảng lý thuyết vốn con người của Schultz (1961) và Becker (1962, 1964), đầu tư cho lao động thông qua đào tạo chuyên môn và kỹ năng thực hành (learning-by-doing) được xem là hình thức tích lũy tài sản vô hình mang tính quyết định (Rosen, 1986; Green và cộng sự, 1996). Các công trình của Arthur (1994), Lall và cộng sự (1994), Tessema (2014), Tran & Vo (2020), và Siepel và cộng sự (2021) chứng minh rằng việc nâng cao năng lực hấp thu và đổi mới tổ chức lao động giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và gia tăng năng suất đầu ra.
Dòng nghiên cứu thứ ba phân tích định hướng kinh doanh (EO). Mintzberg (1973) đặt nền móng cho việc phân tích phong cách ra quyết định của nhà quản trị. Miller & Friesen (1978, 1982) và Miller (1983) cấu trúc hóa EO thành tổ hợp đơn chiều gồm ba thành tố: đổi mới (innovativeness), chấp nhận rủi ro (risk taking) và chủ động cạnh tranh (proactiveness). Ngược lại, Lumpkin & Dess (1996, 2001) mở rộng EO thành cấu trúc đa chiều gồm năm khía cạnh độc lập: đổi mới, chấp nhận rủi ro, chủ động, cạnh tranh quyết liệt (competitive aggressiveness) và tự chủ (autonomy). Sự hiện diện của EO được chứng minh là thúc đẩy hiệu quả hoạt động vượt trội (Wiklund & Shepherd, 2005; Rauch và cộng sự, 2009; Li và cộng sự, 2009).
Dòng nghiên cứu thứ tư phân tích vai trò thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển (North, 1990; Shen & Hou, 2021). Môi trường thể chế minh bạch, các chính sách hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo của chính quyền địa phương đóng vai trò giảm thiểu chi phí giao dịch và tạo lập hành lang an toàn cho hoạt động đổi mới của DNNVV.
+-------------------------------------------------------+
| Môi trường Thể chế Cấp tỉnh |
| (North, 1990 - Năng động, Đào tạo, Dịch vụ) |
+---------------------------+---------------------------+
|
v
+------------------------------------+ +-------------------------------------+
| Định hướng Chiến lược | | Năng lực Đổi mới Doanh nghiệp |
| - Định hướng Kinh doanh (EO) | +-----> | - Đổi mới Công nghệ (TI) |
| (Mintzberg, 1973; Lumpkin, 1996)| | (Schumpeter, 1934; Walsh, 2002) |
| | | - Đổi mới Lao động (LI) |
| | | (Becker, 1962; Schultz, 1961) |
+------------------------------------+ +------------------+------------------+
|
v
+------------------------------------+ +---------------------+
| Biến Nội sinh Quan hệ Khách hàng | <============== | Hiệu quả Hoạt động |
| (CR) | | Doanh nghiệp (FP) |
| (Hamilton & Nickerson, 2003; ERM) | | (ROA, ROE, ROS...) |
+------------------------------------+ +---------------------+
Các cuộc tranh luận học thuật nổi bật xoay quanh hai vấn đề cốt lõi:
- Bản chất cấu trúc của định hướng kinh doanh: Quan điểm đơn chiều nhất thể (Miller, 1983; Covin & Slevin, 1989) yêu cầu các thành tố phải đồng thời xuất hiện, đối lập với quan điểm đa chiều linh hoạt (Lumpkin & Dess, 1996; Naldi và cộng sự, 2007) cho rằng các khía cạnh có thể vận hành độc lập tùy thuộc vào bối cảnh tổ chức.
- Tính nội sinh của mạng lưới quan hệ: Trong khi Zhou và cộng sự (2005) và Lee và cộng sự (2015) giả định quan hệ khách hàng và mạng lưới kinh doanh là biến ngoại sinh tương tác, Hamilton & Nickerson (2003) và Garcia-Castro và cộng sự (2010) phản biện rằng các nhà quản trị đưa ra quyết định xây dựng mạng lưới dựa trên kỳ vọng nội tại về hiệu quả tương lai, biến quan hệ khách hàng thành một biến nội sinh mang tính lựa chọn chiến lược.
So sánh với hai nghiên cứu quốc tế tiêu biểu:
- Nghiên cứu của Cinar, Altuntas, & Alan (2020) trên mẫu 252 doanh nghiệp xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ khẳng định mối quan hệ trực tiếp giữa chuyển giao công nghệ, đổi mới và hiệu quả hoạt động, nhưng giới hạn ở các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn và không kiểm soát hiện tượng nội sinh trong quản trị.
- Nghiên cứu kinh điển của Campa & Kedia (2002) và Villalonga (2005) tại thị trường phát triển chỉ ra rằng kết luận về mức chiết khấu đa dạng hóa của doanh nghiệp hoàn toàn bị đảo ngược khi mô hình kinh tế lượng kiểm soát hiện tượng nội sinh và các biến quan sát ẩn danh.
Kế thừa các luận điểm trên, luận án của Nguyễn Đình Thông định vị chính xác khoảng trống: Tiên phong ứng dụng mô hình kinh tế lượng xử lý biến nội sinh để đánh giá đồng thời tác động của TI, LI và EO lên FP của DNNVV tại một vùng nông nghiệp - sinh thái đang chuyển đổi công nghiệp hóa ở một quốc gia mới nổi.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra bước tiến quan trọng trong việc tích hợp và mở rộng các lý thuyết quản trị và kinh tế học phát triển:
- Mở rộng Lý thuyết Ra quyết định Chiến lược (Mintzberg, 1973) và Lý thuyết Kinh tế lượng Quản trị (Hamilton & Nickerson, 2003): Chứng minh rằng các quyết định chiến lược về đổi mới không diễn ra trong môi trường ngẫu nhiên mà chịu sự chi phối có hệ thống của các yếu tố nội sinh tiềm ẩn. Việc bổ sung biến Quan hệ khách hàng (CR) với tư cách là biến nội sinh giúp giải mã cơ chế mà qua đó năng lực kết nối thị trường tác động thực chất đến hiệu quả doanh nghiệp.
- Phát triển Lý thuyết Vốn con người (Becker, 1962; Schultz, 1961): Khẳng định đổi mới lao động không chỉ giới hạn ở bằng cấp hình thức mà biểu hiện qua các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng công nghệ, trực tiếp giải phóng năng lực vận hành trang thiết bị tiên tiến tại các DNNVV.
- Bổ sung Lý thuyết Thể chế (North, 1990): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về vai trò của chính quyền địa phương thông qua 03 chiều kích chính sách: tính năng động tiên phong của lãnh đạo, chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và chính sách đào tạo lao động. Thể chế địa phương hiệu quả làm giảm chi phí giao dịch phi chính thức và khuếch đại tác động tích cực của các chiến lược đổi mới nội bộ.
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được mô hình hóa:
- H1: Đổi mới công nghệ có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
- H2: Đổi mới lao động có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
- H3: Định hướng kinh doanh có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
- H4: Mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp chịu sự chi phối cấu trúc của biến nội sinh quan hệ khách hàng.
- H5a, H5b, H5c: Tính năng động của chính quyền, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và chính sách đào tạo lao động cấp tỉnh có tác động tích cực (+) đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án kết nối đồng thời 04 nền tảng lý thuyết: Lý thuyết đổi mới Schumpeter, Lý thuyết vốn con người Becker, Lý thuyết chiến lược Mintzberg và Lý thuyết thể chế North. Tính mới về mặt giải tích (analytical novelty) nằm ở việc thiết kế cấu trúc hai tầng:
- Tầng vi mô (Firm-level): Tác động nội tại của bộ ba TI - LI - EO lên FP dưới sự chi phối nội sinh của CR.
- Tầng vĩ mô/trung gian (Provincial-level): Sự tác động của môi trường thể chế chính sách địa phương (đo lường thông qua các chỉ số thành phần PCI).
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ ràng: Mô hình áp dụng đặc thù cho các DNNVV chính thức (theo Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 và Nghị định 39/2018/NĐ-CP), hoạt động trong không gian kinh tế 13 tỉnh vùng ĐBSCL với đặc thù tỷ trọng doanh nghiệp chế biến nông thủy sản và thương mại dịch vụ chiếm đa số.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo trường phái thực chứng (positivism) với phương pháp tiếp cận định lượng kinh tế lượng chuẩn mực. Thiết kế nghiên cứu đa cấp (multi-level design) cho phép tích hợp dữ liệu vi mô ở cấp độ doanh nghiệp với dữ liệu thể chế ở cấp độ tỉnh.
Đối tượng nghiên cứu là các DNNVV đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang và TP. Cần Thơ. Khung mẫu nghiên cứu loại trừ các đơn vị hành chính sự nghiệp và tập trung vào các doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập có báo cáo tài chính đầy đủ trong các kỳ điều tra của Tổng cục Thống kê.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Luận án thực hiện đối chiếu chéo tam giác dữ liệu (data triangulation) từ 03 nguồn điều tra quy mô quốc gia:
- Bộ dữ liệu Điều tra Doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2018 và 2020: Cung cấp toàn bộ chỉ tiêu tài chính, doanh thu, lợi nhuận trước thuế, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, quy mô lao động, loại hình sở hữu và mã ngành kinh tế.
- Dữ liệu Điều tra Chuyên đề Đổi mới Công nghệ trong doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê: Cung cấp thông tin chi tiết về quá trình đổi mới quy trình, đổi mới sản phẩm, mua sắm máy móc thiết bị và chi phí R&D.
- Dữ liệu Điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Cung cấp các chỉ số thành phần về tính năng động của chính quyền tỉnh, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động.
Quy trình làm sạch dữ liệu loại bỏ các quan sát trùng lặp, các doanh nghiệp có số liệu âm bất thường về tài sản hoặc doanh thu không giải trình được, đảm bảo tính đại diện thống kê cao và độ tin cậy tuyệt đối cho các biến ước lượng.
Data và phân tích
Để giải quyết triệt để hiện tượng thiên lệch nội sinh do các biến tiềm ẩn không quan sát được gây ra, luận án áp dụng Phương pháp Hồi quy Mở rộng (Extended Regression Model - ERM) thông qua phần mềm Stata. Các mô hình hồi quy OLS hoặc hồi quy bội truyền thống sẽ cho ra các ước lượng chệch và không vững khi biến giải thích tương quan với sai số ngẫu nhiên (Hamilton & Nickerson, 2003; Drukker, 2017).
Mô hình ERM cho phép đồng thời ước lượng phương trình kết quả (Firm Performance - FP) và phương trình nội sinh (Customer Relationship - CR) thông qua cấu trúc phân phối chuẩn nhiều chiều của các phần dư. Luận án lựa chọn và kiểm định nghiêm ngặt hệ thống Biến công cụ (Instrumental Variables - IVs) thỏa mãn hai điều kiện: có tương quan mạnh với biến nội sinh CR nhưng ngoại sinh đối với sai số của phương trình FP:
- Loại hình doanh nghiệp (DN Nhà nước, DN tư nhân, DN có vốn đầu tư nước ngoài).
- Ngành sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp.
- Quy mô doanh nghiệp (Firm size tính theo lao động và tổng nguồn vốn).
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và tài sản cố định bình quân.
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (FP) được đo lường toàn diện thông qua các chỉ tiêu tài chính khách quan: Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA = Lợi nhuận trước thuế / Tổng tài sản), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE = Lợi nhuận trước thuế / Vốn chủ sở hữu) và Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS = Lợi nhuận trước thuế / Doanh thu thuần). Các kiểm định độ vững (robustness checks), ma trận hệ số tương quan và kiểm định Wald về tính ngoại sinh (Wald test of exogeneity) đều được thực hiện đầy đủ nhằm đảm bảo giá trị khoa học của mô hình.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả ước lượng thực nghiệm từ mô hình ERM mang lại 05 phát hiện đột phá:
- Trật tự tác động phân tầng của bộ ba chiến lược: Sự kết hợp đồng thời giữa Đổi mới công nghệ (TI), Đổi mới lao động (LI) và Định hướng kinh doanh (EO) tạo ra tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,01$) đến hiệu quả hoạt động của DNNVV ĐBSCL. Trong đó, đổi mới công nghệ giữ vai trò dẫn dắt tiên phong với hệ số tác động lớn nhất, tiếp đến là đổi mới lao động và sau cùng là định hướng kinh doanh.
- Xác thực tính nội sinh của quan hệ khách hàng: Kiểm định thống kê trong mô hình ERM chứng minh hệ số tương quan phần dư giữa phương trình quan hệ khách hàng và phương trình hiệu quả hoạt động có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Điều này bác bỏ giả định ngoại sinh truyền thống và khẳng định Quan hệ khách hàng (CR) là một biến nội sinh mang tính chi phối cấu trúc đối với toàn bộ hiệu quả của TI, LI và EO.
- Phát hiện nghịch lý về loại hình sở hữu: Sự chi phối của biến nội sinh quan hệ khách hàng thể hiện rõ nét và vượt trội ở nhóm doanh nghiệp không phải tư nhân thuần túy (các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phần). Ngược lại, ở khu vực tư nhân nhỏ lẻ, mối liên kết khách hàng còn mang tính tự phát và chưa được tối ưu hóa thành năng lực cạnh tranh bền vững.
- Ngưỡng quy mô doanh nghiệp (Firm-size threshold): Sự chi phối của biến nội sinh quan hệ khách hàng phát huy tác dụng mạnh mẽ nhất ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, nhưng hoàn toàn mất ý nghĩa thống kê ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ (micro-enterprises). Các doanh nghiệp siêu nhỏ thiếu nguồn lực tài chính và nhân sự để duy trì các kênh tương tác khách hàng chuyên nghiệp.
- Tác động đòn bẩy từ thể chế cấp tỉnh: Ba chỉ số thành phần PCI bao gồm: Tính năng động tiên phong của lãnh đạo tỉnh, Chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và Chính sách đào tạo nghề cho người lao động đều có hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê ($p < 0,01$), đóng vai trò là chất xúc tác thể chế thúc đẩy hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro kinh doanh cho DNNVV.
| Biến số / Nhân tố |
Vai trò trong Mô hình ERM |
Chiều hướng tác động đến FP |
Mức ý nghĩa thống kê |
Ghi chú phát hiện then chốt |
| Đổi mới Công nghệ (TI) |
Biến độc lập chính |
Dương (+) |
$p < 0,01$ |
Yếu tố dẫn đầu về cường độ tác động đến FP |
| Đổi mới Lao động (LI) |
Biến độc lập chính |
Dương (+) |
$p < 0,01$ |
Đóng vai trò nền tảng hấp thu kỹ thuật |
| Định hướng Kinh doanh (EO) |
Biến độc lập chính |
Dương (+) |
$p < 0,05$ |
Xúc tác hành vi và tầm nhìn chiến lược |
| Quan hệ Khách hàng (CR) |
Biến nội sinh chi phối |
Tác động cấu trúc |
$p < 0,01$ |
Chi phối mạnh ở nhóm DN vừa và DN có vốn Nhà nước |
| Thể chế Chính sách (PCI) |
Biến môi trường thể chế |
Dương (+) |
$p < 0,01$ |
Năng động lãnh đạo, Dịch vụ hỗ trợ & Đào tạo lao động |
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết: Kết quả nghiên cứu làm sâu sắc thêm lý thuyết thể chế và lý thuyết quản trị chiến lược tại các nền kinh tế đang chuyển đổi, chỉ ra rằng việc bỏ qua yếu tố nội sinh của mạng lưới quan hệ sẽ dẫn đến việc ước lượng sai lệch đóng góp thực tế của đổi mới công nghệ và nguồn nhân lực.
- Hàm ý phương pháp luận: Khẳng định sự ưu việt và tính tất yếu của việc sử dụng mô hình Hồi quy Mở rộng (ERM) thay cho các mô hình hồi quy OLS/FEM/REM truyền thống trong nghiên cứu quản trị chiến lược doanh nghiệp khi có sự xuất hiện của các biến quyết định quản trị tiềm ẩn.
- Hàm ý thực tiễn quản trị: Doanh nghiệp ĐBSCL cần ưu tiên phân bổ nguồn lực theo trình tự chiến lược: Đầu tư hiện đại hóa công nghệ và quy trình sản xuất (TI) $\rightarrow$ Tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu và nâng cao kỹ năng tay nghề cho người lao động (LI) $\rightarrow$ Xây dựng định hướng kinh doanh linh hoạt, chủ động tìm kiếm thị trường mới (EO). Đồng thời, doanh nghiệp phải chuẩn hóa hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (CRM) để biến các mối quan hệ đối tác thành tài sản chiến lược.
- Hàm ý chính sách công: Chính quyền 13 tỉnh ĐBSCL cần tập trung nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI), đặc biệt là đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính tiên phong dám nghĩ dám làm của bộ máy thực thi, nâng cấp các trung tâm xúc tiến thương mại và hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho DNNVV.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 04 hạn chế nghiên cứu mang tính khách quan:
- Giới hạn không gian địa lý: Dữ liệu chỉ thu thập tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL - khu vực mang đậm tính chất kinh tế nông nghiệp và thủy sản. Do đó, khả năng tổng quát hóa kết quả cho các vùng kinh tế trọng điểm có tỷ trọng công nghiệp nặng cao như Vùng Đông Nam Bộ hay Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ cần được xem xét thận trọng.
- Giới hạn về dữ liệu chuỗi thời gian: Dữ liệu dừng lại ở các đợt điều tra năm 2018 và 2020. Dù đã phản ánh được bối cảnh tiền đại dịch và khởi đầu đại dịch Covid-19, nhưng chưa ghi nhận được đầy đủ các biến động kinh tế vĩ mô phức tạp trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19 (2021–2025).
- Đo lường biến định tính: Một số chỉ tiêu về định hướng kinh doanh và quan hệ khách hàng dù đã được lượng hóa qua dữ liệu điều tra thực tế nhưng vẫn chưa bao quát hết các khía cạnh tâm lý học quản trị phức tạp của chủ doanh nghiệp.
- Chưa phân tích chi tiết kinh tế tuần hoàn: Mô hình chưa tích hợp sâu các chỉ số về đổi mới xanh (green innovation) và thích ứng biến đổi khí hậu - một thách thức sống còn của vùng ĐBSCL.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future research agenda) đề xuất 04 hướng đi:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên vùng giữa ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng.
- Xây dựng bộ dữ liệu bảng dài hạn (longitudinal panel data) để đánh giá tác động trễ (lagged effects) của đổi mới công nghệ và thể chế.
- Đưa các biến số về Chuyển đổi số (Digital Transformation), Thương mại điện tử và Đổi mới mô hình kinh doanh xanh vào hàm sản xuất.
- Ứng dụng các phương pháp phân tích phi tham số và phân tích định tính so sánh tập mờ (fsQCA) để tìm kiếm các tổ hợp cấu hình chiến lược đa dạng.
Tác động và ảnh hưởng
Công trình nghiên cứu mang lại những giá trị đóng góp sâu sắc trên nhiều bình diện:
- Tác động học thuật: Đặt nền móng phương pháp luận vững chắc cho việc ứng dụng mô hình kinh tế lượng xử lý biến nội sinh (ERM) trong phân tích kinh tế phát triển và quản trị kinh doanh tại Việt Nam. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới cho các công trình nghiên cứu sinh tiến sĩ và các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành (Scopus/WoS).
- Chuyển đổi ngành công nghiệp: Trực tiếp hỗ trợ các ngành kinh tế chủ lực của ĐBSCL như chế biến thủy hải sản xuất khẩu, xay xát lúa gạo, cây ăn trái và logistics nông nghiệp nhận diện được tầm quan trọng của việc kết hợp đổi mới công nghệ với nâng cao tay nghề công nhân.
- Tác động chính sách cấp tỉnh và quốc gia: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Ủy ban Nhân dân và Sở Kế hoạch & Đầu tư 13 tỉnh ĐBSCL trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 35/NQ-CP, Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 và Nghị định 39/2018/NĐ-CP thành các chương trình hành động hỗ trợ công nghệ và xúc tiến thị trường phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.
- Giá trị xã hội và kinh tế: Góp phần cải thiện năng suất lao động, giảm thiểu tỷ lệ doanh nghiệp giải thể (từng chiếm tới 17,9% cả nước năm 2019), tạo thêm việc làm chất lượng cao và nâng cao thu nhập cho lực lượng lao động nông thôn vùng ĐBSCL.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích đa chiều hoàn chỉnh, nắm vững quy trình xử lý biến nội sinh bằng ERM trên phần mềm kinh tế lượng và hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh điển (Schumpeter, Mintzberg, Becker, North).
- Giảng viên và Nhà nghiên cứu cao cấp: Có tài liệu tham khảo giảng dạy chất lượng cao cho các môn học Kinh tế Phát triển, Kinh tế lượng Ứng dụng và Quản trị Chiến lược Doanh nghiệp.
- Lãnh đạo Doanh nghiệp và Bộ phận R&D: Nhận diện được công thức phân bổ nguồn lực: Đổi mới công nghệ là mũi nhọn, Đổi mới lao động là nền tảng, Định hướng kinh doanh là kim chỉ nam và Quản trị quan hệ khách hàng là điều kiện đòn bẩy.
- Nhà hoạch định Chính sách và Cơ quan Quản lý Nhà nước: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Quản lý Khu kinh tế/Khu công nghiệp các tỉnh ĐBSCL có căn cứ xác thực để thiết kế các gói kích cầu công nghệ và chính sách đào tạo nghề theo sát nhu cầu của doanh nghiệp.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng học thuyết nào?
Trả lời: Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là tích hợp thành công biến Quan hệ khách hàng (CR) như một biến nội sinh (Endogenous Variable) vào mô hình phân tích tác động của Đổi mới công nghệ (TI), Đổi mới lao động (LI) và Định hướng kinh doanh (EO) lên Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (FP). Nghiên cứu đã mở rộng Lý thuyết Ra quyết định Chiến lược của Mintzberg (1973) và các nguyên lý kinh tế lượng quản trị của Hamilton & Nickerson (2003), chứng minh rằng các mối quan hệ thị trường không đơn thuần là yếu tố ngoại cảnh mà là một lựa chọn chiến lược nội sinh chịu sự chi phối của năng lực tiềm ẩn của doanh nghiệp.
2. Đột phá về mặt phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?
Trả lời: So với các nghiên cứu của Cruz-Cázares và cộng sự (2013), Wang (2019) hay Cinar và cộng sự (2020) vốn chủ yếu sử dụng hồi quy OLS hoặc SEM dựa trên thang đo Likert chủ quan, luận án đã tạo bước đột phá phương pháp luận bằng cách sử dụng Mô hình Hồi quy Mở rộng (Extended Regression Model - ERM) kết hợp đa nguồn dữ liệu thực tế từ Tổng cục Thống kê và VCCI. Phương pháp này triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng thiên lệch nội sinh và sai số đo lường, kiểm soát đồng thời phương trình kết quả và phương trình lựa chọn nội sinh thông qua hệ thống biến công cụ chuẩn xác.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là sự chi phối của biến nội sinh quan hệ khách hàng lại thể hiện mạnh mẽ và rõ nét nhất ở nhóm doanh nghiệp phi tư nhân (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn nhà nước chi phối >50%), trong khi ở các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thì tác động này chưa đạt mức tối ưu. Đồng thời, biến nội sinh này chỉ phát huy tác dụng từ quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa trở lên, hoàn toàn biến mất ở phân khúc doanh nghiệp siêu nhỏ.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Trả lời: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu tường minh, chi tiết từ nguồn thu thập dữ liệu (Tổng cục Thống kê, VCCI), định danh các biến quan sát, tiêu chí lựa chọn biến công cụ (ngành nghề, loại hình sở hữu, quy mô vốn đầu tư), công thức đo lường tài chính (ROA, ROE, ROS), đến cú pháp ước lượng ERM trên Stata, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập dễ dàng kiểm chứng và tái lập mô hình trong các bối cảnh nghiên cứu tương tự.
5. Chương trình nghị sự 10 năm cho các nghiên cứu tiếp theo được định hình như thế nào?
Trả lời: Luận án định hình chương trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào 03 trục chính: (1) Mở rộng mô hình ERM sang các vùng kinh tế sinh thái khác để kiểm định tính phổ quát; (2) Tích hợp các chỉ số Đổi mới xanh (Green Innovation), Kinh tế tuần hoàn và Chuyển đổi số vào hàm sản xuất của DNNVV; (3) Khảo sát tác động tương hỗ giữa Thể chế kinh tế số cấp địa phương và khả năng phục hồi của doanh nghiệp trước các cú sốc khí hậu và thị trường toàn cầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Đình Thông đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với 05 đóng góp nền tảng:
- Xây dựng thành công khung phân tích toàn diện kết hợp hài hòa giữa 04 học thuyết kinh điển: Đổi mới Schumpeter, Vốn con người Becker, Chiến lược Mintzberg và Thể chế North.
- Xác lập trật tự tác động thực nghiệm: Đổi mới công nghệ đóng vai trò tiên phong hàng đầu, được hỗ trợ bởi Đổi mới lao động và định hướng bởi Định hướng kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả tài chính của DNNVV ĐBSCL.
- Chứng minh vững chắc tính nội sinh của Quan hệ khách hàng: Xử lý thành công thiên lệch mô hình bằng phương pháp Hồi quy Mở rộng (ERM), mang lại độ tin cậy học thuật vượt trội so với các nghiên cứu trước đây.
- Làm rõ cơ chế tác động của thể chế cấp tỉnh: Khẳng định vai trò xung lực của tính năng động lãnh đạo, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động địa phương (thông qua chỉ số PCI).
- Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ: Định hình lộ trình hành động thiết thực cho chính quyền 13 tỉnh ĐBSCL và các nhà quản trị DNNVV nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới.