phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới. Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển, phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025.
1 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÀNG NGHỀ VÀ NÔNG THÔN MỚI 1. Về làng nghề 1. Nghiên cứu trên thế giới Xuất phát từ nông thôn và gắn bó chặt chẽ với khu vực này nên trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vị trí, vai trò của LN trong quá trình phát triển nông thôn. Ngay từ thế kỉ thứ XIX, K.
Mác đã khẳng định, LN là một đặc trƣng quan trọng của kinh tế nông thôn (dẫn theo [1]). Theo cách nói của ông thì đây chính là một đặc trƣng của nông thôn Châu Á, của phƣơng thức sản xuất Châu Á. Một số sản phẩm của LN khi ấy (dệt may, chế biến thực phẩm, làm đồ gốm, xứ.) đƣợc đặc biệt chú ý vì có quá trình sản xuất gần gũi với quá trình sản xuất trong công nghiệp. Ranis, Gustav và Frances Stewart (1993) [102] cũng cho rằng LN là một loại hình công nghiệp nông thôn đặc biệt, có vai trò quan trọng trong quá trình CNH nông nghiệp, cải thiện, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng (CSHT) ở khu vực nông thôn.
Cùng quan điểm này, có nghiên cứu của Harry T. Theo ông, duy trì mô hình kinh tế hai tầng (gồm công nghiệp lớn ở thành thị và phát triển, nhân cấy các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn) là giải pháp hiệu quả nhất để thực hiện CNH ở các nƣớc châu Á gió mùa. Bởi lẽ, với tính mùa vụ của lao động, để giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động lúc chính vụ nhƣng dƣ thừa lao động lúc nông nhàn, cải thiện và nâng cao thu nhập, ngƣời dân nông thôn “không có cách lựa chọn nào khác là tiếp tục những công việc phi nông nghiệp cổ truyền”. Kinh nghiệm phát triển LN đƣợc đặc biệt nghiên cứu sâu ở các nƣớc trong khu vực châu Á gió mùa.
Ở Nhật Bản, phát triển LN gắn liền với phong trào Mỗi làng một sản phẩm (One Village One Product – OVOP) xuất hiện những năm 70 của thế kỷ XX. OVOP đƣợc đề xuất thực hiện bởi Morihiko Hiramatsu, ngƣời đứng đầu tỉnh Oita lúc bấy giờ. Những nét khái quát về OVOP nguyên thủy Nhật Bản và OVOP đã 1 đƣợc cải tiến khi áp dụng ở nhiều nƣớc trong nghiên cứu Challenges for the OVOP movement in Sub-Saharan Africa - Insights from Malawi, Japan and Thailand [101] đã cho thấy mục tiêu chính của phong trào này là tận dụng nguồn lực tại chỗ, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các LNTT, qua đó làm tăng thu nhập và cải thiện bộ mặt nông thôn. Mục tiêu sâu sa hơn chính là tạo sức hấp dẫn của khu vực nông thôn, hạn chế di dân tự do, tạo nguồn lực đủ mạnh để CNH, HĐH nông thôn.
Ngoài đặc sản (rau, quả, đồ gỗ. ), còn có các sản phẩm văn hóa, du lịch, dịch vụ đặc sắc đƣợc khuyến khích phát triển. Trong đó, sản phẩm LN đƣợc đặc biệt nhấn mạnh vì những giá trị kinh tế và bản sắc văn hóa chứa đựng trong đó. Sau OVOP, nhiều ngành nghề truyền thống tƣởng mai một đã đƣợc phục hồi lại, nhiều nghề mới đƣợc phát triển.
Đáng chú ý nhất trong nghiên cứu này là kinh nghiệm của các quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Malawi.) trong việc xây dựng và phát triển thƣơng hiệu cho sản phẩm thủ công truyền thống vùng nông thôn. Ở khu vực châu Á gió mùa, Ấn Độ cũng là quốc gia có nhiều nghề thủ công phát triển. Vai trò của các ngành nghề này, thậm chí, còn đƣợc ví nhƣ là “một sản phẩm di sản, vừa mang tính "dân tộc" vừa có giá trị đạo đức” [100]. Tuy nhiên, do những đặc điểm cố hữu nhƣ: giới hạn về thị trƣờng và mối liên kết trong sản xuất; nguồn lao động dồi dào, nhƣng sự khan hiếm về vốn; sử dụng công nghệ thấp.các nghề thủ công ở Ấn Độ cũng gặp không ít những thách thức khi nƣớc này tham gia quá trình toàn cầu hóa.
Vì thế công trình nghiên cứu The Khadi and Village Industries in Globalized India: Role, Challenges, and Future Ahead [100] cũng đã chỉ rõ những vấn đề cơ bản cần khắc phục là: vốn, công nghệ sản xuất, quảng bá thƣơng hiệu và mở rộng thị trƣờng. Đây cũng là những vấn đề mà LN Việt Nam cần giải quyết trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu ở Việt Nam Ngay từ thế kỉ XV, trong tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thế kỉ thứ XIX, Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú, LN đã đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ văn hóa và lịch sử (dẫn theo [51]). Tuy nhiên, cho đến tận những năm cuối của thế kỷ XX, LN và vai trò của LN trong quá trình phát triển KT - XH mới thực sự 1 đƣợc quan tâm.
Đáng chú ý nhất là công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre Gourou (1936) [29]. Trong tác phẩm này, P.Gourou đã phân chia các LN thủ công Bắc Kỳ thành 9 loại ngành nghề cơ bản: nghề dệt; nghề chế biến thực phẩm; nghề đan lát; nghề mộc; nghề sản xuất vôi, gạch ngói, thợ nề; nghề làm giấy, đồ vàng mã; nghề rèn, đúc, chế tác kim loại; nghề làm nông cụ và nghề gốm. Tuy chƣa thấy hết đƣợc vai trò của tất cả các ngành nghề nông thôn (NNNT) nhƣ hiện nay nhƣng ông đã phân tích khá rõ vai trò của việc phát triển ngành nghề thủ công nhƣ là sự tận dụng sức lao động lúc nông nhàn và là giải pháp để tăng cƣờng hiệu suất sử dụng sức lao động ở nông thôn. Về chủ trƣơng, đƣờng lối, phát triển LN lần đầu tiên đƣợc nhấn mạnh trong Đại hội Đảng lần thứ VIII.
Phát triển LN đƣợc xác định là một nhiệm vụ cơ bản của quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn. Tinh thần này cũng xuyên suốt nhiệm kì thứ IX của Đảng. Đến Đại hội X, Đảng ta đã đặt ra vấn đề "Phát triển bền vững các làng nghề” làm cơ sở cho quá trình xây dựng NTM đƣợc đề cập trong Đại hội Đảng lần thứ XI sau này. Từ sau khi chiến lƣợc CNH đƣợc khởi động lại (năm 1994) đến nay, LN đƣợc coi là một nhân tố quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Vì thế, dƣới góc độ KT - XH, LN trở thành đề tài khảo sát, nghiên cứu của nhiều công trình khoa học [2], [3], [5], [94],. Trong đó, quy mô lớn và công phu nhất là công trình nghiên cứu của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) kết hợp với Bộ NN - PTNT (2002) [99]. Với 3 mẫu phiếu điều tra trên 9.400 xã tại 61 tỉnh thành, song song với các dự án thí điểm, 7 cuộc hội thảo, thảo luận theo chuyên đề và các cuộc thi sản phẩm TCMN Việt Nam. Kết quả khảo sát là cơ sở xây dựng các tiêu chí công nhận LN sau này.
Gần đây (4/2014) Hội thảo Làng nghề và phát triển du lịch [66] đã đƣợc tổ chức. Kỷ yếu của Hội thảo là một công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao với 17 bài viết của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc về xu hƣớng phát triển mới của LN. Tại Hội thảo này, phát triển du lịch LN đã đƣợc xem xét một cách toàn diện dƣới góc nhìn địa lý học, văn hóa, chính trị và kinh tế học. Trong đó nhiều ý tƣởng về mô hình du lịch LN đã đƣợc đề xuất.
1 Có ý nghĩa khoa học cao là các công trình nghiên cứu của Dƣơng Bá Phƣợng [51], Mai Thế Hởn [32] , Đặng Kim Chi [18]. Ngoài hệ thống cơ sở lí luận về LN (khái niệm, phân loại, vai trò, đặc điểm, nhân tố ảnh hƣởng, điều kiện hình thành.), các công trình này còn phân tích khá sâu về thực trạng cũng nhƣ xu hƣớng vận động của LN ở nƣớc ta trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn. Trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp quan trọng. Bàn cụ thể về sự phát triển LN ở ĐBSH, có: - Công trình nghiên cứu của Trần Văn Chử [19], của Nguyễn Vĩnh Thanh [67] có giá trị cao trong việc mở rộng thị trƣờng LN.
Trong đó, vai trò của thƣơng hiệu đối với các sản phẩm của LNTT, chiến lƣợc quảng bá thƣơng hiệu đƣợc đặc biệt nhấn mạnh. Cùng quan điểm này, có Vũ Thị Thoa [69]. Ngoài việc làm rõ vai trò về kinh tế, văn hóa của thƣơng hiệu đối với các sản phẩm của LNTT sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đề tài còn tập trung phân tích những tác động của quá trình hội nhập đối với các LNTT nói chung và LNTT vùng ĐBSH nói riêng. Từ đó, công trình đề xuất nhiều giải pháp thiết thực.
- Nguyễn Tấn Trinh [78] lại đi sâu phân tích quá trình hình thành và phát triển của các LN mới cũng nhƣ những tác động của chúng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng nông thôn các tỉnh ĐBSH. Đây cũng là một công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao. Vì hiện nay, sự phát triển của LN không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn và phát triển các LNTT mà còn phải đảm bảo mục tiêu mở rộng các ngành nghề mới, LN mới đem lại hiệu quả kinh tế cao. - Cũng mang tính thời sự là công trình của Hoàng Văn Châu [17].
Ông đã đƣa ra khái niệm cơ bản về LN du lịch; nêu bật đƣợc tiềm năng và sự cần thiết phải phát triển mô hình LN du lịch ở một số địa phƣơng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đặc biệt, trong công trình này, đã có những tour du lịch với những mô hình LN du lịch rất có giá trị đƣợc đề xuất nhƣ: Homestay, LN du lịch trên cơ sở hiện có, khu LN tập trung. Theo mạch này còn có nghiên cứu của Sylvie Fanchettle và Nicolas Stedman [28]. Đây đƣợc coi là cẩm nang du lịch của nhiều ngƣời nƣớc ngoài và cả ngƣời Việt Nam khi đến thăm các LN ở xung quanh Hà Nội.
1 - Gần đây nhất, luận án Tiến sỹ của tác giả Đỗ Việt Hùng [33], đã cho thấy bức tranh toàn cảnh, chi tiết về hoạt động công nghiệp trong khu vực LN ở vùng ĐBSH.