Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Thủy, thuộc chuyên ngành Địa lý học (mã số 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ và TS. Lê Văn Hương tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2018.
Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ việc thực hiện Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, cùng Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Trong tiến trình này, làng nghề được xác định là nhân tố cơ bản thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm tại chỗ và bảo tồn văn hóa truyền thống. Tỉnh Nam Định nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng với quy mô dân số năm 2015 là 1.850,6 nghìn người (đứng thứ ba trong vùng sau Hà Nội và Hải Phòng), trong đó dân cư nông thôn chiếm 81,7% và 60,8% lao động làm việc trong khu vực nông - lâm - thủy sản. Trước sức ép dân số và lao động, phát triển làng nghề là một chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động làng nghề tại Nam Định bộc lộ nhiều hạn chế như phát triển tự phát, phân tán, manh mún, thiếu quy hoạch, thiếu liên kết và gây ô nhiễm môi trường. Việc phân tích hoạt động làng nghề gắn với các tiêu chí nông thôn mới là yêu cầu cấp thiết nhằm tìm kiếm mô hình phát triển bền vững.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về làng nghề hoặc về nông thôn mới, nhưng dưới giác độ địa lý kinh tế - xã hội, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và lượng hóa mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa phát triển làng nghề và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn cấp tỉnh như Nam Định.
Mục tiêu chung của luận án là vận dụng cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển làng nghề bền vững gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới của địa phương.
Luận án triển khai 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa có chọn lọc cơ sở lý luận về làng nghề, về nông thôn mới dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội; xác lập các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố làng nghề ở tỉnh Nam Định.
- Vận dụng các tiêu chí đã lựa chọn để phân tích thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 - 2015.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển làng nghề ở tỉnh Nam Định theo hướng bền vững, gắn với các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố làng nghề ở tỉnh Nam Định là gì?
- Những đặc điểm nổi bật về phát triển, phân bố làng nghề trong xây dựng nông thôn mới ở địa phương biểu hiện như thế nào?
- Biểu hiện của mối quan hệ hai chiều giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới tại Nam Định diễn ra ra sao?
- Những giải pháp nào cần được thực hiện để phát triển làng nghề bền vững theo các tiêu chí nông thôn mới ở tỉnh Nam Định?
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, tập trung vào 4 nhóm nghề tiêu biểu: chế biến gỗ; mây tre đan, thủ công mỹ nghệ; dệt, may; và cơ khí.
Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ lãnh thổ tỉnh Nam Định, trong đó khảo sát thực địa sâu tại 4 làng nghề thuộc 4 xã của 2 huyện: làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên), làng nghề truyền thống sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên), làng nghề dệt may chăn ga gối đệm Làng Sắc (xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc) và làng nghề truyền thống đúc kim loại Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên). Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2010 - 2015 (thời gian triển khai trọng tâm chương trình nông thôn mới giai đoạn đầu), có so sánh đối chiếu với giai đoạn trước năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề làng nghề và phát triển nông thôn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau:
Về nghiên cứu làng nghề trên thế giới: Từ thế kỉ XIX, K. Mác đã khẳng định làng nghề là đặc trưng của kinh tế nông thôn châu Á và phương thức sản xuất châu Á. Gustav Ranis và Frances Stewart (1993) coi làng nghề là loại hình công nghiệp nông thôn đặc thù thúc đẩy hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Harry T. Oshima nhấn mạnh mô hình kinh tế hai tầng (công nghiệp lớn đô thị kết hợp ngành nghề phi nông nghiệp nông thôn) là giải pháp thích hợp cho các nước châu Á gió mùa nhằm giải quyết lao động nông nhàn. Phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) khởi xướng bởi Morihiko Hiramatsu tại tỉnh Oita (Nhật Bản) từ thập niên 1970 và các kinh nghiệm mở rộng sang Malawi, Thái Lan đã chỉ ra vai trò bảo tồn nghề thủ công, tạo dựng thương hiệu để hạn chế di dân tự do. Nghiên cứu của The Khadi and Village Industries in Globalized India cũng chỉ ra các khó khăn về vốn, công nghệ và thị trường mà làng nghề truyền thống Ấn Độ phải đối mặt khi hội nhập.
Về nghiên cứu làng nghề tại Việt Nam: Các thư tịch cổ như Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỉ XV), Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú (thế kỉ XIX) và Đại Nam nhất thống chí đã ghi chép về các làng nghề dệt, nấu rượu. Vũ Huy Trác (thế kỉ XVIII) biên soạn tài liệu về nghề đúc đồng làng Tống Xá. Năm 1936, Pierre Gourou trong tác phẩm "Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ" đã phân loại làng nghề thủ công Bắc Kỳ thành 9 nhóm ngành và phân tích vai trò tận dụng lao động nông nhàn. Giai đoạn đổi mới, khảo sát của JICA kết hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) trên 9.400 xã thuộc 61 tỉnh thành đã đặt nền tảng xây dựng tiêu chí công nhận làng nghề. Các tác giả Dương Bá Phượng, Mai Thế Hởn, Đặng Kim Chi nghiên cứu sâu về lý luận và môi trường làng nghề. Vấn đề thị trường và thương hiệu làng nghề Đồng bằng sông Hồng được phân tích bởi Trần Văn Chử, Nguyễn Vĩnh Thanh, Vũ Thị Thoa. Nguyễn Tấn Trinh nghiên cứu làng nghề mới; Hoàng Văn Châu, Sylvie Fanchette và Nicolas Stedman khảo sát làng nghề gắn với du lịch; Đỗ Việt Hùng làm rõ khái niệm công nghiệp làng nghề; Lê Văn Hương, Bạch Thị Lan Anh, Trịnh Kim Liên, Bùi Văn Tiến nghiên cứu làng nghề trong mối liên hệ với công nghiệp hóa nông thôn.
Tại Nam Định, các công trình văn hóa của Nguyễn Thị Lan Hương, Đỗ Đình Thọ đã khảo cứu lịch sử làng nghề. Lê Thị Lài và các tác giả thuộc Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cảnh báo tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề cơ khí. Các nghiên cứu về khía cạnh kinh tế của Nguyễn Minh Văn, Trần Quốc Hùng, Vũ Ngọc Hoàng và đặc biệt là công trình của Trần Lê Đoài (giai đoạn 2006 - 2012) đã phân tích tác động của hệ thống chính sách đối với sự phát triển của làng nghề thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định.
Về nghiên cứu nông thôn mới: Phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc khởi xướng từ năm 1969 dưới thời Tổng thống Park Chung Hee được tổng kết là mô hình phát triển dựa vào cộng đồng qua 3 giai đoạn. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc nhấn mạnh yêu cầu cơ sở hạ tầng và dịch vụ công phải đi trước một bước. Ở Việt Nam, sau Nghị quyết số 26-NQ/TW (năm 2008), các nghiên cứu của Vũ Trọng Khải, Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng, Vũ Văn Phúc, Trần Minh Yến đã phân tích toàn diện lý luận và thực tiễn triển khai Bộ tiêu chí quốc gia. Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung chỉ ra sự khác biệt về cấp triển khai (Việt Nam thực hiện ở cấp xã, trong khi Hàn Quốc bắt đầu từ làng, Trung Quốc bắt đầu từ hương trấn). Về mối liên hệ giữa làng nghề và nông thôn mới, Lê Xuân Tâm đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tại tỉnh Bắc Ninh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án kế thừa các kết quả lý luận về làng nghề và nông thôn mới, song tập trung khắc phục khoảng trống nghiên cứu khi các công trình đi trước chưa xác lập rõ hệ thống tiêu chí định lượng để đánh giá mối quan hệ hai chiều giữa làng nghề và nông thôn mới. Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội khảo sát thực chứng tác động qua lại này trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng trong luận án:
- Khái niệm Làng nghề: Luận án áp dụng định nghĩa theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định làng nghề là cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng hoặc các điểm dân cư tương tự có hoạt động ngành nghề nông thôn (theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP) đạt tỷ lệ tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia. Đồng thời phân biệt với làng nghề truyền thống (nghề có lịch sử trên 50 năm, mang bản sắc văn hóa dân tộc, gắn với nghệ nhân hoặc tên làng), làng có nghề và phố nghề.
- Khái niệm Công nghiệp nông thôn và Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xác định công nghiệp nông thôn là bộ phận công nghiệp phân bố ở nông thôn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP dựa trên quy mô lao động và tổng nguồn vốn.
- Khái niệm Nông thôn mới: Được hiểu là vùng lãnh thổ bao gồm cả các xã và thị trấn, được xây dựng theo Bộ 19 tiêu chí quốc gia, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, sản xuất hàng hóa phát triển, đời sống người dân được nâng cao, giữ gìn bản sắc và bảo vệ môi trường.
- Khung phân tích mối quan hệ hai chiều:
- Chiều thứ nhất (Làng nghề tác động đến xây dựng nông thôn mới): Góp phần thực hiện tiêu chí quy hoạch; tiêu chí hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, bưu điện); tiêu chí giải quyết việc làm thường xuyên (>90%); tiêu chí nâng cao thu nhập; đồng thời tạo ra áp lực tiêu cực lên tiêu chí môi trường do tính tự phát.
- Chiều thứ hai (Xây dựng nông thôn mới tác động đến làng nghề): Hỗ trợ phục hồi, bảo tồn và nhân cấy làng nghề mới theo định hướng "Mỗi làng một sản phẩm"; nâng cao chất lượng lao động qua Đề án số 1956; đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất và mở rộng liên kết doanh nghiệp.
Quan điểm tiếp cận nghiên cứu:
- Quan điểm hệ thống: Đặt làng nghề Nam Định trong tổng thể hệ thống kinh tế - xã hội tiểu vùng phía Nam Đồng bằng sông Hồng, đồng thời so sánh giữa các xã đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn nông thôn mới.
- Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ: Xem xét làng nghề như một thể tổng hợp lãnh thổ chịu sự chi phối của tự nhiên, kinh tế, xã hội và phân bố không gian.
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích nguồn gốc hình thành, quá trình biến động quá khứ, hiện trạng 2010 - 2015 và dự báo xu hướng đến năm 2025.
- Quan điểm phát triển bền vững: Đảm bảo tăng trưởng kinh tế làng nghề đi đôi với công bằng xã hội, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp từ Thư viện Quốc gia, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Cục Thống kê tỉnh Nam Định, các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Nam Định; kết hợp tài liệu sơ cấp từ quan sát và phỏng vấn.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Phân tích số liệu theo thời gian, theo nhóm ngành nghề và theo đơn vị hành chính lãnh thổ.
- Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi số liệu 2010 - 2015 bằng các phần mềm chuyên dụng như Excel và SPSS.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Khảo sát trực tiếp cảnh quan sản xuất, hoạt động xưởng nghề và hạ tầng tại các địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành trong tháng 10 và tháng 11 năm 2016. Chọn mẫu ngẫu nhiên 10% tổng số cơ sở sản xuất trên địa bàn khảo sát với 144 phiếu điều tra hộ làm nghề tại 4 làng nghề đại diện: La Xuyên, Cát Đằng, Làng Sắc và Tống Xá. Tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới và tài chính của 4 xã. Dữ liệu điều tra được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS.
- Phương pháp bản đồ và GIS: Sử dụng phần mềm MapInfo để xây dựng hệ thống 6 bản đồ chuyên đề phục vụ nghiên cứu hiện trạng, nhân tố và định hướng phân bố không gian làng nghề.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà quản lý, nhà khoa học tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Trung tâm Khuyến công và Ban điều phối Nông thôn mới tỉnh Nam Định.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề, công nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Luận án trích dẫn khung tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo quy định hiện hành làm căn cứ đánh giá quy mô kinh tế làng nghề:
| Khu vực |
DN siêu nhỏ (Số lao động) |
DN nhỏ (Số lao động) |
DN nhỏ (Tổng nguồn vốn) |
DN vừa (Số lao động) |
DN vừa (Tổng nguồn vốn) |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
≤ 10 người |
10 - 200 người |
20 - 100 tỉ đồng |
200 - 300 người |
100 - 300 tỉ đồng |
| Công nghiệp và xây dựng |
≤ 10 người |
10 - 200 người |
20 - 100 tỉ đồng |
200 - 300 người |
100 - 300 tỉ đồng |
| Thương mại và dịch vụ |
≤ 10 người |
10 - 50 người |
10 - 50 tỉ đồng |
50 - 100 người |
50 - 100 tỉ đồng |
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (Bảng 1.1 trong luận án)
Tác giả phân chia làng nghề thành 8 nhóm ngành dựa trên đặc thù sản xuất: (1) chế biến lương thực, thực phẩm; (2) sản xuất vật liệu xây dựng; (3) chế biến gỗ; (4) mây tre đan, thủ công mỹ nghệ; (5) dệt, may; (6) cơ khí; (7) trồng, kinh doanh sinh vật cảnh; (8) nhóm ngành nghề khác. Đồng thời, chương này thiết lập khung phân tích mối quan hệ giữa làng nghề và 19 tiêu chí nông thôn mới, xác định làng nghề tác động trực tiếp nhất đến các tiêu chí quy hoạch, giao thông, điện, thu nhập, việc làm và môi trường.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định
Chương này đánh giá toàn diện các nhóm nhân tố chi phối hoạt động làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam Định:
- Vị trí địa lý và lãnh thổ: Nằm ở phía Nam vùng Đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp vịnh Bắc Bộ, mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy thuận lợi giúp việc giao thương nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm diễn ra nhanh chóng.
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Địa hình đồng bằng bằng phẳng tạo điều kiện cư trú và phân bố sản xuất. Tài nguyên khoáng sản tại chỗ nghèo nàn, do đó phần lớn làng nghề Nam Định phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu kim loại, gỗ, vải nhập từ các tỉnh khác hoặc nhập khẩu.
- Nhân tố kinh tế - xã hội:
- Dân cư và lao động: Mật độ dân số cao cung cấp lực lượng lao động dồi dào, cần cù, có truyền thống khéo tay. Vai trò của các thợ cả và nghệ nhân là nhân tố quyết định đến việc giữ gìn kỹ thuật và mở rộng quy mô nghề.
- Nguồn vốn: Chủ yếu là vốn tự tích lũy của hộ gia đình, bổ sung từ các quỹ tín dụng, ngân hàng và nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia.
- Thị trường và cơ sở hạ tầng: Mạng lưới điện lưới quốc gia bảo đảm tải điện cho máy móc hoạt động; hệ thống giao thông nông thôn được bê tông hóa theo chuẩn nông thôn mới giúp giảm chi phí vận chuyển; sự phát triển của thương mại điện tử giúp mở rộng kênh tiêu thụ sản phẩm.
- Khoa học công nghệ: Quá trình cơ giới hóa bán phần và toàn phần diễn ra ở nhiều khâu sản xuất, giúp tăng năng suất lao động và giảm thiểu sức lao động thủ công nặng nhọc.
Chương 3: Thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định
Chương 3 trình bày các số liệu và phân tích thực chứng về hoạt động làng nghề tại Nam Định giai đoạn 2010 - 2015:
- Quy mô và phân bố: Số lượng làng nghề phân bố không đồng đều giữa các huyện, tập trung mật độ cao tại các huyện Ý Yên, Nam Trực, Xuân Trường, Mỹ Lộc.
- Cơ cấu tổ chức và lao động: Hình thức kinh tế hộ gia đình vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo, song các hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đã gia tăng. Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động làm nghề cao hơn từ 2 đến 3 lần so với lao động thuần nông; làng nghề thu hút cả lao động nông nhàn, người cao tuổi và phụ nữ.
- Thực trạng 4 nhóm làng nghề tiêu biểu khảo sát sâu:
- Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên): Phát triển mạnh khâu chạm khắc tinh xảo, ứng dụng máy cắt CNC kết hợp hoàn thiện thủ công, sản phẩm tiêu thụ rộng khắp cả nước.
- Làng nghề sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên): Tận dụng nguyên liệu gỗ, tre nứa, tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu có giá trị kinh tế.
- Làng nghề dệt may Làng Sắc (xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc): Sản xuất mặt hàng chăn, ga, gối, đệm, tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương.
- Làng nghề đúc kim loại Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên): Phát triển đúc đồng, nhôm, gang và cơ khí chế tạo; đóng góp giá trị sản xuất lớn nhưng là điểm nóng về ô nhiễm khói bụi, xỉ thải và tiếng ồn.
- Mối quan hệ giữa làng nghề và xây dựng nông thôn mới:
- Làng nghề tác động tích cực đến nông thôn mới: Các xã có làng nghề đạt chuẩn tiêu chí thu nhập và tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên (>90%) sớm hơn các xã thuần nông. Nguồn lực tài chính từ các cơ sở làng nghề đóng góp lớn cho phong trào làm đường giao thông, xây dựng nhà văn hóa và trường học.
- Thách thức về môi trường: Hoạt động làng nghề không theo quy hoạch gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và chất thải rắn nghiêm trọng, khiến tiêu chí số 17 (Môi trường) trở thành tiêu chí khó đạt và thiếu bền vững nhất ở các xã có làng nghề.
- Nông thôn mới hỗ trợ làng nghề: Chương trình đào tạo nghề theo Đề án số 1956 đã cung cấp lao động có kỹ thuật cho các làng nghề; các dự án hỗ trợ khuyến công và hạ tầng nông thôn mới tạo điều kiện mở rộng mặt bằng sản xuất.
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển, phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025
Chương này xây dựng định hướng phát triển không gian làng nghề Nam Định gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chương trình xây dựng nông thôn mới bền vững đến năm 2025:
- Nhóm giải pháp về vốn đầu tư: Tạo điều kiện tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi, quỹ khuyến công và liên kết ngân hàng thương mại.
- Nhóm giải pháp về nguyên vật liệu: Xây dựng các chuỗi liên kết cung ứng nguyên liệu ổn định, giảm sự phụ thuộc thụ động vào biến động thị trường.
- Nhóm giải pháp thị trường và thương hiệu: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý và xây dựng trang thông tin điện tử quảng bá sản phẩm.
- Nhóm giải pháp đào tạo nhân lực: Nâng cao hiệu quả Đề án số 1956, kết hợp vai trò truyền nghề của nghệ nhân với đào tạo kỹ thuật vận hành máy móc hiện đại và kỹ năng quản trị kinh doanh cho chủ cơ sở.
- Nhóm giải pháp khoa học công nghệ: Khuyến khích ứng dụng công nghệ xử lý bề mặt, tiết kiệm năng lượng và cải tiến quy trình công nghệ theo hướng giảm phát thải.
- Nhóm giải pháp kết cấu hạ tầng và quy hoạch: Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung, tách khu vực sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư nông thôn.
- Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường: Đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải và chất thải rắn tập trung tại các làng nghề đúc kim loại, dệt nhuộm; thực hiện quan trắc định kỳ.
- Nhóm giải pháp tổ chức sản xuất: Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, củng cố mô hình hợp tác xã dịch vụ làng nghề để làm đầu mối liên kết sản xuất và tiêu thụ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học về làng nghề, nông thôn mới và mối quan hệ hai chiều giữa làng nghề với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới dưới giác độ địa lý kinh tế - xã hội.
- Xây dựng khung tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển, phân bố làng nghề gắn kết với các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới áp dụng cho cấp tỉnh.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phân tích chi tiết bức tranh phát triển và phân bố không gian làng nghề tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 - 2015, làm rõ sự phân hóa giữa các nhóm ngành và giữa các đơn vị hành chính cấp huyện.
- Cung cấp dẫn chứng thực nghiệm từ 144 phiếu điều tra tại 4 làng nghề điển hình (La Xuyên, Cát Đằng, Làng Sắc, Tống Xá) chứng minh làng nghề đóng vai trò đòn bẩy trong việc hoàn thành tiêu chí thu nhập, việc làm và hạ tầng, nhưng đồng thời là rào cản đối với tiêu chí môi trường.
- Xây dựng hệ thống 6 bản đồ địa lý kinh tế chuyên đề (thực hiện trên phần mềm MapInfo) thể hiện các nhân tố, hiện trạng và định hướng phân bố không gian làng nghề Nam Định đến năm 2025.
- Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi nhằm phát triển làng nghề theo hướng bền vững, hỗ trợ công tác quản lý của các cơ quan ban ngành tỉnh Nam Định.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế của luận án:
- Phạm vi số liệu thống kê chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2010 - 2015; số liệu về môi trường làng nghề ở một số cơ sở sản xuất phân tán quy mô nhỏ còn thiếu tính hệ thống do công tác thống kê tại địa phương chưa đồng bộ.
- Mẫu điều tra xã hội học (144 phiếu) tuy bảo đảm tính ngẫu nhiên đại diện nhưng mới tập trung chủ yếu vào 4 làng nghề thuộc 2 huyện Ý Yên và Mỹ Lộc, chưa thể bao quát hết toàn bộ 8 nhóm ngành nghề trên địa bàn toàn tỉnh.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra thực địa đối với các nhóm làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm và sinh vật cảnh tại các huyện ven biển như Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng.
- Nghiên cứu cập nhật các chỉ số phát triển làng nghề theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu trong giai đoạn sau năm 2015.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Địa lý học, Địa lý kinh tế - xã hội, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc vận dụng phương pháp nghiên cứu địa lý kết hợp điều tra xã hội học và ứng dụng công nghệ GIS (phần mềm MapInfo) vào nghiên cứu lãnh thổ.
- Các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Nam Định như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban điều phối Chương trình nông thôn mới trong việc hoạch định chính sách khuyến công, quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề và thẩm định các tiêu chí nông thôn mới cấp xã, huyện.
- Các phần đáng tham khảo nhất bao gồm: hệ thống bảng biểu số liệu thực chứng tại Chương 3, phương pháp phân tích so sánh giữa xã có làng nghề và xã không có làng nghề, cùng hệ thống bản đồ định hướng không gian làng nghề đến năm 2025.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án căn cứ vào tiêu chí nào để xác định làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam Định?
Luận án căn cứ vào Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, yêu cầu cụm dân cư phải có tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP; đối với làng nghề truyền thống thì nghề phải xuất hiện trên 50 năm, tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và gắn với tên tuổi nghệ nhân hoặc làng nghề.
-
Quy mô mẫu điều tra xã hội học trong luận án được tiến hành như thế nào?
Tác giả đã phát 144 phiếu điều tra ngẫu nhiên tới các hộ sản xuất (chiếm khoảng 10% tổng số cơ sở sản xuất trên địa bàn khảo sát) tại 4 làng nghề điển hình: La Xuyên, Cát Đằng, Làng Sắc và Tống Xá thuộc 2 huyện Ý Yên và Mỹ Lộc trong tháng 10 và tháng 11 năm 2016; dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
-
Mối liên hệ hai chiều giữa làng nghề và xây dựng nông thôn mới tại Nam Định thể hiện ở những điểm trọng yếu nào?
Làng nghề thúc đẩy nông thôn mới qua việc nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 90% lao động, đóng góp vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật, nhưng gây cản trở trực tiếp đến tiêu chí môi trường do chất thải chưa qua xử lý. Ngược lại, xây dựng nông thôn mới hỗ trợ làng nghề qua đào tạo nghề (Đề án số 1956), nâng cấp hạ tầng giao thông, điện và thúc đẩy nhân cấy nghề mới theo phương châm mỗi làng một sản phẩm.
-
Bốn làng nghề được nghiên cứu trường hợp trong luận án đại diện cho những nghề gì?
Bốn làng nghề gồm: đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên); sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên); chăn, ga, gối, đệm, dệt may Làng Sắc (xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc); và đúc kim loại Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên).
-
Tác giả sử dụng các công cụ phần mềm nào để phục vụ phân tích dữ liệu và biểu diễn không gian?
Tác giả sử dụng phần mềm Excel và phần mềm SPSS để nhập liệu, làm sạch và xử lý các chỉ tiêu thống kê định lượng; đồng thời sử dụng phần mềm MapInfo để xây dựng hệ thống 6 bản đồ địa lý kinh tế chuyên đề.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Thủy đã hoàn thành việc nghiên cứu thực trạng phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ các quan điểm hệ thống, tổng hợp - lãnh thổ cùng phương pháp điều tra xã hội học 144 hộ nghề và công nghệ bản đồ MapInfo, công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa phát triển làng nghề và 19 tiêu chí nông thôn mới. Kết quả nghiên cứu khẳng định làng nghề là động lực kinh tế quan trọng nâng cao thu nhập và cải thiện hạ tầng nông thôn, song cũng chỉ ra áp lực lớn đối với tiêu chí môi trường cần được xử lý thông qua quy hoạch cụm công nghiệp tập trung. Hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025 được đề xuất là tài liệu có giá trị khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ cho công tác quản lý và phát triển bền vững nông thôn tỉnh Nam Định.