Đặt Vấn Đề Nêu những lý do thực hiện dé tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu dé tài. Chương 2: Cơ Sở Lý Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu Trong chương này trình bày một số khái niệm và các chuẩn mực để thực hiện nghiên cứu và một số chỉ tiêu đánh giá cùng với những phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài. Chương 3: Tổng Quan Trình bày những vấn dé chung của dia bàn mà để tài tiến hành nghiên cứu. Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luận Chương này trình bày những kết quá đạt được trong quá trình nghiên cứu và đề ra những hướng giải quyết trong quá trình thực hiện chương trình gặp phải, cho chương trình được hoàn thiện hơn.
Chương 5: Kết Luận Và Kiến Nghị Tóm lược lại những kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho phần kiến nghị. Le eerr re “= —— Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái Niệm Về Nghèo Đói Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vục Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc, Thái Lan đưa ra: “Nghéo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cau cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Điểm mấu chốt trong định nghĩa này là sự thỏa mãn nhu cầu cơ ban của con người. Tuy nhiên, tiêu chuẩn định tính và thước do định lượng về nhu cầu cơ ban là những điều để ngỏ vì chúng tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Định nghĩa này cũng là nói đến khái niệm nghèo tuyệt đối, đó là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét. Điểm khác biệt so với nhiều nước là bên cạnh khái niệm nghèo, chúng ta còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư, Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo dim nhu cau về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn một số tháng, phải vay nợ và thiếu kha năng chi trả.
Tuy thuộc vào khả năng đẩm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm để duy trì cuộc sống trong năm mà người ta còn phân loại hộ đói thành hộ thiếu đói hoặc hộ đói gay gắt. Ngoài khái niệm nghèo và đói nói trên dùng cho cấp hộ gia đình hay cá nhân, chúng ta còn sử dụng khái niệm “vùng nghèo” trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Vùng nghèo là nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước xét trong cùng một thời điểm.2 Thước Do Mức Nghèo Chuẩn mực nghèo là chỉ tiêu quan trọng nhất khi đánh giá mức nghèo. Như đã nói, chuẩn mực nghèo được sử dụng trong việc hoạch định chính sách XDGN của các cơ quan chính phủ hiện nay là thu nhập tính trên đầu người.
Chỉ tiêu này thuận lợi trong việc điểu tra và đánh giá bởi vì nó có đơn vị đo lường thống nhất là bằng tiền. Các hộ gia đình có thể có nghề nghiệp, nguồn thu nhập hết sức khác nhau về dạng sản phẩm, song thu nhập sau khi tính toán bằng tiền hay bằng hiện vật quy đổi (như số lượng kg gạo chẳng hạn) có thể so sánh với nhau. Về mặt lý thuyết, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách cũng nêu ra các chỉ tiêu phụ để đánh giá tình trạng nghèo, như đinh duGng bữa ăn, chất lượng nhà ở, số lượng quần áo mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại. Trong các cuộc điều tra về mức sống dân cư, những chỉ tiêu này đã được thu thập, song không được sử dụng để đánh giá mức nghèo.
Lý do được đưa ra là các chỉ tiêu trên và cơ cấu chỉ tiêu phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính chất vùng, dân tộc, giới tính,v.như sở thích phong tục tập quán, điều kiện khí hậu. Chuẩn mực nghèo cũng đã được các cơ quan khác nhau trong chính phủ và các nhà nghiên cứu tính toán một cách khác nhau, tuy sự chênh lệch không lớn lắm : * Chuẩn mực nghèo do Bộ LD-TBXH để ra năm 1993, lấy mức thu nhập bình quân đầu người một tháng quy ra gạo với các mức độ nghèo, đói và đói gay gắt: nghèo tuyệt đối-15kg gạo, đói-12kg gạo và đói gay gắt kinh nién-8kg gạo. Đến năm 1996, tiêu chuẩn đó được thay đổi để áp dụng trong việc xây dựng chương trình XĐGN: Nghèo lương thực thực phẩm: nông thôn miễn núi, hải đảo = dưới 15kg nông thôn đồng bằng, trung du = dưới 20kg thành thi=duéi25kg _ Đói lương thực thực phẩm: cả nước dưới 13 kg Với chuẩn nghèo này, năm 1996 cả nước ta có 2,85 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 19,23% tổng hộ dân. Theo quyết định số 1143/2000 của Bộ trưởng LĐ-TBXH về điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-2005 của nước ta, bắt dau có hiệu lực từ 1/2/2001, cụ thể như sau: Bảng 1: Chuẩn Mực Nghèo Đói Của Cả Nước DVT: đồng Chuẩn hộ nghèo Khu vực Mức thu nhập Mức thu nhập bình quân ngườ/năm bình quan người/tháng Thành thị 1.000 Nông thôn đồng bằng 1.000 Nông thôn miễn núi, hải đảo - 960.000 Nguồn tin: Bộ Lao động thương binh xã hội * Tổng cục thống kê đưa ra chuẩn mực nghèo về lương thực, thực phẩm là 2.100 calo/ngườingày tương đương với mức thu nhập 70.000 déng/thang ở thành thị và 50.000 déng/thang ở nông thôn (giá 1993) được tính ra chuẩn mực nghèo nói chung.
% Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra chuẩn hộ nghèo ở các nước đang phát triển (Đông Á, Trung Đông và Bắc Phi) về mặt thu nhập là dưới 370 USD/người/năm (tương đương khoáng 5,2 triệu déng/1 người/năm ở nước ta vào năm 1995). Theo thống kê của Bộ LD-TBXH năm 1998 nước ta có khoảng 2,38 triệu hộ nghèo đói, chiếm 15,7% trong tổng số 12,5 triệu hộ cả nước. Trong số đó có 300 nghìn hộ đói với 1,5 triệu dân. Đến năm 2000 con số này chỉ còn chiếm 11% 2.3 Xác Định Xã-Phường Nghèo Xã-phường nghèo có đặc trưng sau: Tỷ lệ hộ XĐGN nghèo chiếm trên 20% số hộ dân.
Xã-phường thiếu những CSHT như sau: Điện sinh hoạt: có tỷ lệ hộ chưa có điện thắp sáng từ 6% trở lên Cầu-đường: chưa có đường cấp phối rộng trên 4m dẫn đến trung tâm xã- phường; còn cầu khỉ lién ấp hoặc liên tổ nhân dân Trường học: thiếu trường, phòng học, có tỷ lệ dan mù chữ trên 5% và tỷ lệ thất học trên 15% so với số người trong độ tuổi phải đi học (trên 6 tuổi) Trạm y tế: chưa có hoặc thiếu trang thiết bị, y bác sĩ, vệ sinh môi trường có trên 30% số hộ dân không sử dụng nhà vệ sinh tự hoại. Nước sinh hoạt: còn trên 30% hộ dân sử dụng nước đổi hay nước tự nhiên Chợ: chưa có hoặc có nhưng không đáp ứng yêu cầu. Tỷ lệ lao động chưa có việc làm trên 20% so với lao động trong độ tuổi của xã-phường. — —-~ a = = _=_ ——_ "——=—— se - — ON me ~ = - > lite —S— 2.4 Đặc Điểm Của Hộ Nghéo Thanh Thi "Các định nghĩa về nghèo đói dựa trên mức thu nhập không phan ánh được những loại hình của su ban cùng là yếu tố của nghèo đói ở nông thôn và thành thị, dẫn đến kết quả là các quốc gia và các tổ chức da phương đánh giá không đúng mức số lượng người sống trong nghèo đói và điều kiện sống của họ".
Những thước do truyền thống dé đánh giá nghèo đói dựa trên việc liệu cá nhân hay hộ gia đình có di lương thực hoặc có kiếm đủ thu nhập để mua lương thực hay không. Tuy nhiên, những thước đo này, may mắn lắm, cũng chỉ giúp chúng ta hiểu một phần nào đó về nghèo đói, và kết quả là các chương trình giảm nghèo không tập trung và không hiệu quả. Những thước đo này không để cập đến các khía cạnh của sự ban cùng, bao gồm thiếu tài sản, quyền lợi, diéu kiện tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu về y tế và học vấn, thiếu tiếng nói về chính trị và thiếu sự bảo vệ về pháp lý. Hầu hết số liệu của chình phủ về nghèo đói ở thành thị đều dựa trên các tiêu chuẩn nghèo đói mà đưa ra con số thấp hơn nhiễu so với chi phí sống ở thành phố.
Ngân hàng thế giới đã không đánh giá đúng về mức độ nghèo đói ở thành thị bởi vì ở nhiễu thành phố, 1 đôla cho một người trong một ngày trong đó chưa tính đến chỉ phí cho các nhu câu thiết yếu phi lương thực. Chỉ phí cho các nhu cầu thiết yếu phi lương thực thường khá cao ở các thành phố lớn như: Chi phí cho giao thông công cộng. Chi phí cho giáo dục. Thậm chí ở các trường miễn học phi, thì các chi phí liên quan cho déng phục, sách vở, đi lại và lệ phí thi cử cũng đắt đỏ đối với những gia đình nghèo muốn gửi con cái đến trường.
10 te el —— a Chi phi cho nha ctfa. Nhiéu gia dinh thué nha 6 thanh phố phải dành hơn 1/3 thu nhập để trả tiền thuê nhà. Các hộ thuê nhà hay định cư bất hợp pháp có thể phải trả giá cao khi sử dụng nước sạch và các dịch vụ khác. Chi phí cho nước sạch, vệ sinh và thu lượm rác.
Tiền nước thường chiếm từ 10 tới 20% thu nhập của gia đình. Hàng chục triệu người dân thành thị không có nhà vệ sinh trong nhà, phải trả tiền khi sử dụng nhà vệ sinh hay đơn giản là tận dụng các khoảng đất ngoài trời hoặc túi nhựa. Chi phí cho chăm sóc sức khỏe và thuốc men, đặc biệt ở những nơi không được tiếp cận với nhà cung cấp cộng déng hay với các tổ chức phi chính phủ và khi sử dụng các dịch vụ tư nhân thì phải trả tiền. Nhiều hộ có thu nhập thấp cũng dành một khoản đáng kể để phòng bệnh.
Chi phí cho chăm sóc tré em, khi mọi người lớn trong gia đình tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập. Các khoắn trả cho tổ chức tại địa phương, hối lộ cảnh sát, tiền phạt khi bị bắt vì bán dao bất hợp pháp, va các chi phí khác.