Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đóng vai trò nền tảng để bảo đảm công bằng xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Trải qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc cải thiện đời sống nhân dân và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên cả nước vẫn còn phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Mỹ Hưng là một xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Mặc dù địa phương đã có những chuyển biến nhất định trong sản xuất nông - lâm nghiệp, xuất phát điểm kinh tế của xã vẫn ở mức thấp, địa hình chia cắt phức tạp, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và đời sống của người dân còn gặp nhiều trở ngại. Đến đầu năm 2018, toàn xã vẫn còn 140 hộ nghèo (chiếm 22,9% tổng số hộ) và 135 hộ cận nghèo (chiếm 22,0% tổng số hộ). Trước yêu cầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn đến năm 2022, việc giải quyết triệt để tình trạng đói nghèo, ngăn chặn nguy cơ tái nghèo và xây dựng sinh kế bền vững cho người dân là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của cấp ủy và chính quyền địa phương.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nghèo đói của các hộ nông dân trên địa bàn xã Mỹ Hưng, đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đối với nông hộ.
    2. Đánh giá thực trạng nghèo đói và kết quả thực hiện công tác giảm nghèo của các hộ nông dân tại xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
    3. Chỉ ra các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng đói nghèo của hộ nông dân trên địa bàn xã.
    4. Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy công tác giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân trong các năm tiếp theo.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của các hộ nông dân xã Mỹ Hưng trong những năm qua diễn ra như thế nào?
    2. Đâu là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo của hộ nông dân xã Mỹ Hưng?
    3. Các chính sách, chương trình giảm nghèo đang áp dụng tại địa phương đạt được kết quả và bộc lộ những hạn chế gì?
    4. Cần thực hiện các giải pháp chủ yếu nào nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng trong giai đoạn tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình nghèo và cận nghèo sinh sống và sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Mỹ Hưng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; trong đó khảo sát chọn mẫu thực địa tại 3 xóm đại diện: Nà Riềng, Tục Mỹ và Nà Lếch.
  • Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp trong giai đoạn 3 năm (2015 - 2017); nghiên cứu thực địa, khảo sát điều tra sơ cấp và xử lý tài liệu được tiến hành từ ngày 13/08/2018 đến ngày 23/12/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên hệ thống các khái niệm kinh tế học nông nghiệp và phát triển nông thôn:

  • Khái niệm hộ và hộ nông dân: Khái niệm "hộ" được tiếp cận theo Từ điển chuyên ngành kinh tế và quan điểm thống nhất tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980), xác định hộ là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất vừa tiêu dùng. Khái niệm "hộ nông dân" vận dụng định nghĩa của tác giả Lê Đình Thắng (1993), khẳng định nông hộ là tế bào kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn, thu nhập và đời sống phụ thuộc chủ yếu vào nghề nông kết hợp các hoạt động phi nông nghiệp.
  • Khái niệm nghèo đói và phát triển bền vững: Tác giả tổng hợp các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Liên hợp quốc về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối; khái niệm nghèo theo quan điểm của Việt Nam (thiếu hụt đa chiều về thu nhập, cơ hội tạo thu nhập, tài sản và các dịch vụ cơ bản). Các thuật ngữ chuyên ngành được làm rõ gồm: nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo và thoát nghèo bền vững. Về phát triển bền vững, tác giả trích dẫn định nghĩa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN - 1980), Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED - 1987) và Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004.
  • Khung văn bản pháp lý và chuẩn nghèo: Khóa luận hệ thống hóa các mốc chuẩn nghèo của Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2020. Trong đó, căn cứ trực tiếp là Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020; Thông tư số 17/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg (Chương trình 135); Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn; Quyết định số 286/QĐ-TTg, Quyết định số 60/2014/QĐ-TTg và Thông tư số 190/2014/TT-BTC về hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội.
  • Tổng kết thực tiễn: Tác giả phân tích kinh nghiệm giảm nghèo quốc tế của Thái Lan (chính sách đất đai, xí nghiệp làng nghề), Hàn Quốc (4 nội dung phát triển nông thôn, tín dụng, giá mua ngũ cốc), Trung Quốc (cải cách cơ cấu nông thôn từ năm 1984); cùng bài học thực tiễn từ huyện Quảng Uyên (tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề) và huyện Hạ Lang (cán bộ biên phòng tăng cường theo Nghị quyết 30a) thuộc tỉnh Cao Bằng.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được thiết kế cụ thể:

  • Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu điều tra: Tác giả lựa chọn 3 xóm đại diện trong tổng số 16 xóm của xã Mỹ Hưng gồm: Nà Riềng, Tục Mỹ và Nà Lếch. Tại mỗi xóm, chọn 20 hộ (gồm 12 hộ nghèo và 8 hộ cận nghèo). Tổng quy mô mẫu khảo sát sơ cấp là 60 hộ.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Số liệu thứ cấp được khai thác từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, sổ sách địa chính, thống kê của UBND xã Mỹ Hưng giai đoạn 2015 - 2017. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phát phiếu điều tra nông hộ và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu khảo sát được tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel. Đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả (tần suất, trung bình, mode, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất), phương pháp so sánh (số tương đối, chỉ số biến động, chuỗi số thời gian) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
  • Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Nhóm chỉ tiêu điều kiện sản xuất (diện tích đất bình quân/hộ, bình quân/khẩu, tỷ lệ lao động/khẩu); nhóm chỉ tiêu kinh tế hộ (tổng thu nhập, chi phí sản xuất, thu nhập thuần, thu nhập bình quân đầu người/tháng, chi tiêu bình quân đầu người/tháng); nhóm chỉ tiêu đánh giá nghèo (tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ cận nghèo).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu xóa đói giảm nghèo bền vững trong bối cảnh phân hóa giàu nghèo và nguy cơ tái nghèo cao tại các xã miền núi biên giới. Văn bản xác định xã Mỹ Hưng là một trong những xã khó khăn của huyện Phục Hòa. Tác giả chỉ ra các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở công tác giảm nghèo chung, chưa phân tích chuyên sâu các yếu tố mang tính bền vững gắn với lộ trình phát triển kinh tế đến năm 2022. Phần này cũng trình bày rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận đối với công tác điều hành tại địa phương.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tổng kết toàn diện các lý thuyết về kinh tế nông hộ, sự hình thành các chuẩn nghèo trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các nguyên nhân gây nghèo đói trên phạm vi toàn cầu (sự thiếu hiểu biết, bệnh tật, sự thờ ơ, tính không thành thật, sự phụ thuộc) và các nguyên nhân đặc thù tại Việt Nam (yếu tố lịch sử, biến đổi khí hậu, chênh lệch vùng miền, rủi ro dịch bệnh, hạn chế về vốn nhân khẩu, vốn thể chế và khả năng tiếp cận thị trường). Nội dung thực tiễn phân tích mô hình chính sách của Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc và hai mô hình điển hình tại tỉnh Cao Bằng là huyện Quảng Uyên và huyện Hạ Lang, từ đó đúc kết 6 bài học kinh nghiệm ứng dụng cho xã Mỹ Hưng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương 3 chi tiết hóa khung phương pháp nghiên cứu của đề tài. Tác giả thiết lập hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu, giới thiệu địa bàn nghiên cứu tại xã Mỹ Hưng và quy trình khảo sát 60 nông hộ tại 3 xóm đại diện (Nà Riềng, Tục Mỹ, Nà Lếch). Phương pháp luận bao gồm các bước thu thập số liệu thứ cấp (báo cáo thống kê, địa chính, y tế, văn hóa của xã giai đoạn 2015 - 2017) và sơ cấp (phỏng vấn trực tiếp, thảo luận nhóm theo phương pháp PRA). Đồng thời, chương này thiết lập công thức tính toán cho hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực sản xuất, cơ cấu chi phí, thu nhập và tỷ lệ phân loại hộ nghèo, cận nghèo.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ kết quả phân tích số liệu thực địa của xã Mỹ Hưng giai đoạn 2015 - 2017:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã Mỹ Hưng có diện tích tự nhiên 40,71 km2 (tổng diện tích đất thống kê năm 2017 là 3.901,04 ha), địa hình kéo dài 16 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình 350 m so với mực nước biển. Đất đai chủ yếu là đất thịt (chiếm 80%), thích hợp cho trồng trọt.
  • Hiện trạng sử dụng đất đai: Năm 2017, nhóm đất nông nghiệp chiếm 3.708,71 ha (95,06% diện tích tự nhiên); trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 615,75 ha (đất trồng lúa 251,62 ha, đất trồng cây hàng năm khác 359,42 ha), đất lâm nghiệp chiếm 3.091,85 ha (đất rừng phòng hộ 2.276,59 ha, đất rừng sản xuất 815,26 ha). Nhóm đất phi nông nghiệp chiếm 146,74 ha (3,76%) và đất chưa sử dụng còn 45,59 ha (1,18%).
Nhóm đất Năm 2015 (ha) Cơ cấu 2015 (%) Năm 2016 (ha) Cơ cấu 2016 (%) Năm 2017 (ha) Cơ cấu 2017 (%)
Tổng diện tích tự nhiên 3.920,50 100,00 3.918,04 100,00 3.901,04 100,00
1. Đất nông nghiệp 3.712,70 94,70 3.712,50 94,75 3.708,71 95,06
- Đất sản xuất nông nghiệp 619,30 16,70 618,20 16,65 615,75 16,60
- Đất lâm nghiệp 3.092,00 83,22 3.091,80 83,28 3.091,85 83,37
2. Đất phi nông nghiệp 140,00 3,57 143,50 3,67 146,74 3,76
3. Đất chưa sử dụng 67,80 1,75 62,04 1,56 45,59 1,18
  • Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế: Tổng giá trị sản xuất (GTSX) của xã tăng từ 20.667.201 nghìn đồng (năm 2015) lên 21.401.284 nghìn đồng (năm 2017). Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển: ngành nông nghiệp giảm tỷ trọng từ 49,59% (2015) xuống 47,00% (2017); ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 22,17% lên 23,00%; ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 28,24% lên 30,00%.
  • Sản xuất nông nghiệp:
    • Cây lương thực: Năm 2017, diện tích gieo trồng đạt 362,71 ha, tổng sản lượng 1.728,17 tấn. Cụ thể: lúa xuân 43,61 ha (năng suất 49,58 tạ/ha, sản lượng 216,22 tấn); lúa mùa 142 ha (năng suất 46,8 tạ/ha, sản lượng 664,56 tấn); ngô xuân 108,6 ha (năng suất 55 tạ/ha, sản lượng 597,41 tấn); ngô hè thu 68,5 ha (năng suất 36,5 tạ/ha, sản lượng 250,2 tấn).
    • Cây công nghiệp ngắn ngày: Cây mía là cây hàng hóa chủ lực với diện tích tăng từ 150,87 ha (2015) lên 164,84 ha (2017), năng suất đạt 660,5 tạ/ha, sản lượng đạt 10.887,68 tấn. Ngoài ra, xã còn trồng 35,45 ha sắn (sản lượng 829,53 tấn), 11,2 ha đậu tương và 3,8 ha lạc.
    • Chăn nuôi: Năm 2017, đàn trâu có 456 con (giảm 61 con so với 2015 do cơ giới hóa giảm nhu cầu cày kéo); đàn bò 60 con; ngựa 193 con; dê 514 con; đàn lợn 1.330 con; đàn gia cầm 11.665 con.
  • Dân số và lao động: Năm 2017, toàn xã có 599 hộ với 2.411 nhân khẩu (nam 1.226 người, chiếm 50,85%; nữ 1.185 người, chiếm 49,15%). Chủ hộ nam chiếm 85,15% (510 hộ), chủ hộ nữ chiếm 14,85% (89 hộ). Tổng số lao động là 1.800 người (nam chiếm 58,2%, nữ chiếm 41,8%). Bình quân đạt 4,02 nhân khẩu/hộ, 3,0 lao động/hộ và 1,34 nhân khẩu/lao động. Xã có 4 dân tộc cùng sinh sống là Tày, Nùng, Mông và Kinh.
  • Hạ tầng và văn hóa - xã hội: Xã đạt 10/19 tiêu chí nông thôn mới; trường tiểu học có 12 cán bộ giáo viên, giảng dạy 82 học sinh (48 tiểu học, 34 mầm non); trạm y tế có 5 cán bộ y tế (1 bác sĩ, 2 y sỹ, 1 nữ hộ sinh, 1 điều dưỡng); tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 100%.
Chỉ tiêu phân loại hộ Năm 2015 (hộ) Năm 2016 (hộ) Năm 2017 (hộ) Tỷ lệ năm 2017 (%)
Tổng số hộ 594 597 599 100,0
Hộ trung bình - khá 424 275 303 50,0
Hộ nghèo 88 191 161 27,0
Hộ cận nghèo 82 131 135 23,0
  • Biến động nghèo đói và kết quả các chương trình hỗ trợ: Năm 2016, số hộ nghèo tăng vọt từ 88 hộ lên 191 hộ do chuyển đổi sang tiêu chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, sau đó giảm xuống 161 hộ vào năm 2017. Năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo phân hóa lớn giữa các xóm: cao nhất là Lập Phân (75,0%), Nà Phường (50,0%), Bó Lếch (47,3%); thấp nhất là Tục Mỹ (10,0%) và Nà Chào (14,7%). Địa phương đã triển khai Chương trình 135 hỗ trợ phân bón NPK và phân đạm UREA (năm 2015 giải ngân 185 triệu đồng cho 170 hộ; năm 2016 giải ngân 328 triệu đồng cho 322 hộ; năm 2017 giải ngân 295 triệu đồng cho 275 hộ). Chính sách hỗ trợ tiền điện theo Quyết định 60/2014/QĐ-TTg mức 46.000 đồng/hộ/tháng (năm 2017 hỗ trợ 161 hộ với tổng số tiền 88,872 triệu đồng). Hỗ trợ nhà ở dột nát (12 nhà năm 2015, 3 nhà năm 2017), làm chuồng trại cho 25 hộ năm 2018; cấp phát thẻ BHYT cho 1.925 đối tượng; cấp gạo cứu đói giáp hạt 3.630 kg, cứu đói tết 1.605 kg; hỗ trợ hiện vật theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg gồm 1.228 vịt con (30 triệu đồng) và 1.068 gà con (26 triệu đồng).

Phần 5: Đánh giá công tác giảm nghèo của địa phương và đưa ra giải pháp

Chương này đánh giá các kết quả đạt được (giảm tỷ lệ nghèo năm 2017 xuống 27%, hoàn thành một số công trình giao thông như đường Lăng Bản - Nặm Tốc trị giá 2 tỷ đồng) và chỉ rõ các hạn chế (tỷ lệ nghèo và cận nghèo cộng dồn vẫn chiếm 50% tổng số hộ, trình độ dân trí thấp, thói quen sản xuất tự cung tự cấp, còn tư tưởng ỷ lại vào chính sách Nhà nước). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống giải pháp:

  • Nhóm giải pháp chung: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, phát triển diện tích mía nguyên liệu gắn với thị trường tiêu thụ; đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông liên xóm và hệ thống kênh mương tưới tiêu.
  • Giải pháp đối với chính quyền và ban ngành: Tăng cường đào tạo nghề nông thôn, lồng ghép hiệu quả vốn Chương trình 135 và nông thôn mới; gắn kết hoạt động cho vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội với chuyển giao kỹ thuật khuyến nông; minh bạch công tác rà soát hộ nghèo.
  • Giải pháp đối với các hộ nghèo: Nâng cao ý thức tự vươn lên thoát nghèo, tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật; thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, thực hiện nếp sống văn minh, hạn chế chi tiêu lãng phí vào các hủ tục ma chay, cưới hỏi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa chi tiết bức tranh kinh tế - xã hội và thực trạng giảm nghèo tại xã Mỹ Hưng thông qua hệ thống dữ liệu thực tế:

  • Phản ánh trung thực sự biến động tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều: từ 88 hộ năm 2015 tăng lên 191 hộ năm 2016 (tăng 54% do thay đổi chuẩn đo lường tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg), và giảm xuống còn 161 hộ năm 2017 (chiếm 27% tổng số hộ, giảm 4,7% so với 2016).
  • Thống kê toàn diện nguồn lực giải ngân từ các chính sách an sinh xã hội tại địa phương: tổng hợp hỗ trợ vật tư Chương trình 135 trong 3 năm đạt 808 triệu đồng (NPK và đạm UREA); giải ngân chi trả tiền điện cho hộ nghèo đạt 243,18 triệu đồng qua 3 năm; cấp phát gạo cứu trợ 5.235 kg gạo; cấp 1.925 thẻ BHYT miễn phí cho người dân.
  • Xác định cây mía là cây trồng mũi nhọn tạo nguồn thu nhập bằng tiền mặt lớn nhất cho nông hộ với quy mô 164,84 ha và sản lượng 10.887,68 tấn trong năm 2017.
  • Đóng góp chính của đề tài là việc đánh giá công tác giảm nghèo không tách rời mà gắn liền với đặc điểm địa bàn biên giới, làm rõ nguyên nhân nghèo đói từ góc độ thiếu vốn, thiếu đất canh tác chất lượng cao, hạn chế về trình độ canh tác và thói quen sinh hoạt. Hệ thống giải pháp đề xuất có tính khả thi, phân định rõ trách nhiệm giữa hệ thống chính trị cơ sở và bản thân người dân nghèo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Hạn chế: Thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở tương đối ngắn (3 tháng); quy mô điều tra chọn mẫu dừng lại ở 60 hộ nghèo và cận nghèo tại 3/16 xóm (Nà Riềng, Tục Mỹ, Nà Lếch), chưa thể bao quát hết toàn bộ các xóm đặc thù có tỷ lệ nghèo cao như Lập Phân hay Nà Phường. Nguồn số liệu thứ cấp chỉ tổng hợp được đến hết năm 2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát trên diện rộng đối với toàn bộ 16 xóm của xã; cập nhật chuỗi số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn sau năm 2017; nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả kinh tế của chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ cây mía nguyên liệu giữa nông hộ và các nhà máy chế biến; đánh giá định lượng tác động dài hạn của các nguồn vốn vay ưu đãi đối với chỉ số thoát nghèo bền vững.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế và Xã hội học khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh kế nông hộ, an sinh xã hội vùng biên giới.

Nội dung đề tài có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với cán bộ quản lý cấp xã, cán bộ phụ trách công tác Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Nông dân huyện Phục Hòa và tỉnh Cao Bằng trong việc theo dõi thực thi Quyết định 59/2015/QĐ-TTg và Chương trình 135. Các phần đáng tham khảo bao gồm: phương pháp thiết kế phiếu phỏng vấn nông hộ theo công cụ PRA, hệ thống chỉ tiêu tính toán thu nhập - chi phí nông hộ, và phương pháp phân tích số liệu biến động hộ nghèo theo không gian thôn xóm.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Mỹ Hưng biến động như thế nào qua giai đoạn 2015 - 2017 và nguyên nhân chủ yếu là gì? Năm 2015, xã có 88 hộ nghèo (14,8%). Sang năm 2016, số hộ nghèo tăng lên 191 hộ (chiếm 32,0% tổng số hộ, tăng 54% so với năm 2015) do địa phương bắt đầu áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, cùng với việc nhiều hộ mới tách hộ gặp khó khăn về sinh kế. Đến năm 2017, nhờ nỗ lực thực hiện các chương trình giảm nghèo, số hộ nghèo giảm xuống còn 161 hộ (chiếm 27,0%).

2. Cây trồng nào đóng vai trò là cây công nghiệp hàng hóa chủ lực tại xã Mỹ Hưng và kết quả sản xuất năm 2017 đạt bao nhiêu? Cây mía là cây công nghiệp ngắn ngày chủ lực của xã Mỹ Hưng. Diện tích mía liên tục mở rộng qua các năm: năm 2015 đạt 150,87 ha, năm 2016 đạt 163,30 ha và năm 2017 đạt 164,84 ha. Năng suất mía năm 2017 đạt 660,5 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 10.887,68 tấn.

3. Hoạt động hỗ trợ trực tiếp tư liệu sản xuất từ Chương trình 135 cho các hộ nghèo và cận nghèo tại xã giai đoạn 2015 - 2017 diễn ra ra sao? Chương trình 135 đã hỗ trợ phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp: năm 2015 hỗ trợ phân khoáng hữu cơ NPK cho 170 hộ (88 hộ nghèo, 82 hộ cận nghèo) với kinh phí 185 triệu đồng; năm 2016 hỗ trợ phân đạm UREA Hà Bắc cho 322 hộ (191 hộ nghèo, 131 hộ cận nghèo) với kinh phí 328 triệu đồng; năm 2017 hỗ trợ phân khoáng hữu cơ NPK cho 275 hộ (161 hộ nghèo, 135 hộ cận nghèo theo nhu cầu đăng ký) với kinh phí 295 triệu đồng.

4. Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo tại xã Mỹ Hưng được thực hiện với định mức và kinh phí chi trả như thế nào? Căn cứ Thông tư 190/2014/TT-BTC và Quyết định 60/2014/QĐ-TTg, mỗi hộ nghèo được hỗ trợ 46.000 đồng/tháng (552.000 đồng/hộ/năm). Kinh phí chi trả tiền điện trong 3 năm lần lượt là: năm 2015 hỗ trợ 88 hộ (48,576 triệu đồng); năm 2016 hỗ trợ 191 hộ (105,432 triệu đồng); năm 2017 hỗ trợ 161 hộ (88,872 triệu đồng).

5. Kết quả rà soát phân loại hộ năm 2017 cho thấy xóm nào có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất và thấp nhất tại xã Mỹ Hưng? Trong số 16 xóm của xã, xóm có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là xóm Lập Phân với 75,0% (12/16 hộ là hộ nghèo), tiếp đến là xóm Nà Phường với 50,0% (10/20 hộ). Hai xóm có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là xóm Tục Mỹ với 10,0% (12/119 hộ) và xóm Nà Chào với 14,7% (11/75 hộ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Hiền đã phản ánh một cách hệ thống và trung thực thực trạng công tác giảm nghèo tại xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2017 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Thông qua nguồn dữ liệu thống kê địa phương kết hợp khảo sát thực địa 60 nông hộ tại 3 xóm đại diện, đề tài đã phân tích rõ nét các yếu tố tự nhiên, cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng và việc thực thi các chính sách an sinh xã hội như Chương trình 135, chính sách tiền điện, nhà ở và cấp phát BHYT. Các giải pháp đề xuất tập trung vào phát triển cây mía hàng hóa, hoàn thiện hạ tầng tưới tiêu, gắn kết tín dụng chính sách với khuyến nông và nâng cao ý thức tự chủ của nông hộ, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý kinh tế - xã hội tại địa phương.