Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngành nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển KTXH của đất nước. Có hơn 70% dân số sống dựa vào nông nghiệp, vì vậy nông nghiệp và nông thôn luôn là lĩnh vực được các cấp, các ngành quan tâm. Với sức ép nông nghiệp thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ. Trong những năm gần đây nền nông nghiệp của nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt, đây là nền tảng đóng góp quan trọng trong chiến lược xóa đói giảm nghèo của đất nước.
Một trong những ngành nông nghiệp của nước ta là sản xuất cây dong riềng. Cây dong riềng giờ đây đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều địa phương, là nguyên liệu chính để sản xuất miến dong. Tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất tự nhiên là 485.044ha là đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) chiếm 85%, 21.159ha là đất phi nông nghiệp chiếm 4,35% và 51.738ha là đất chưa sử dụng chiếm 10,65%. Do đó, tỉnh có lợi thế về phát triển các sản phẩm nông, lâm nghiệp trong đó nổi bật là các sản phẩm nông sản có thương hiệu tập thể, có chỉ dẫn địa lý.
Tỉnh tập trung phát triển sản xuất với quy mô tương đối lớn, sản phẩm đạt chất lượng, từng bước thâm nhập thị trường phân phối hiện đại trong nước và hướng tới xuất khẩu. Bắc Kạn sở hữu những sản phẩm nổi bật như miến dong, cam, quýt, hồng không hạt. Từ lợi thế về địa lý, tỉnh Bắc Kạn đã lấy ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn của tỉnh. Tại Nghị quyết số 02-NQ/ĐH ngày 17/10/2015 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã đưa ra Chương trình trọng tâm, nhiệm vụ và giải pháp “thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường…”, trong đó tỉnh Bắc Kạn đã phát triển cây dong riềng như là một ngành nông nghiệp mũi nhọn của tỉnh.
Trong các đơn vị thuộc tỉnh Bắc Kạn thì huyện Na Rì là địa phương có h 2 diện tích đất trồng cây nông nghiệp khá lớn do vậy địa phương đã chú trọng phát triển mạnh về trồng cây nông sản trong đó nổi bật là cây dong riềng, một loại nông sản có thế mạnh của địa phương. Trong những năm qua cây dong riềng trở thành nguồn nguyên liệu chính, huyện Na Rì đã không ngừng phát triển mạnh mẽ về cả diện tích và quy mô sản xuất, tỉnh đã tập trung hỗ trợ về cơ chế, chính sách và tài chính để các cơ sở sản xuất mặt hàng miến dong có điều kiện tốt nhất để sản xuất. Đây là những cơ hội thuận lợi để địa phương phát triển mạnh hơn nữa ngành hàng miến dong. Cấu trúc và hoạt động thị trường miến dong đã thay đổi theo hướng chuyên môn hoá.
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng miến dong nói riêng, trong thời gian qua đã vấp phải những khó khăn và thách thức lớn làm ảnh hưởng đến giá trị gia tăng của ngành hàng nhất là phân phối lợi ích và chi phí giữa các tác nhân tham gia ngành hàng. Để đánh giá, phân tích xác định lợi ích các tác nhân tham gia thị trường và đề xuất những giải pháp cho việc phát triển bền vững của môi trường, ổn định các vấn đề kinh tế - xã hội và cạnh tranh gay gắt trên thị trường nông sản. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và tình hình thực tiễn, nhằm nghiên cứu thực trạng ngành hàng miến dong huyện Na Rì. Để tìm ra những điểm mạnh điểm yếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất miến dong, đưa ra những giải pháp hợp lý để phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới.
Từ những vấn đề trên và cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo ThS Nguyễn Mạnh Thắng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu, phân tích thực trạng ngành hàng miến dong, hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành hàng miến h 3 dong góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho các hộ nông dân ở xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, KTXH để tìm ra thuận lợi và khó khăn trong sản xuất miến dong. - Xác định được các tác nhân, phân tích kinh tế và lợi ích các tác nhân tham gia vào ngành hàng - Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng: xác định những lợi thế và cơ hội, những cản trở và nguy cơ thách thức của các tác nhân trong ngành hàng - Đề xuất được các giải pháp hành động để thực hiện chiến lược phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn. Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo. Giúp hiểu thêm về tình hình sản xuất miến dong trên địa bàn xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 1.2 Ý nghĩa thực tiễn Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế người dân trong địa bàn.
Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Các quan điểm và khái niệm về ngành hàng 2.1 Ngành hàng Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng.
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài".P Boutonnet, INRA France) Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng”. Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ.[7] Có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia h 5 công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp”.[1] Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó.
Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng như sau:[1] - Sự dịch chuyển về mặt thời gian sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác. Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ. Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm. - Sự dịch chuyển về mặt không gian trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác.
Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm. Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá. Điều kiện cần thiết của chuyển dịch là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ. - Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm) Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến.
Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến. Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra. Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính h 6 sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết”.2 Tác nhân Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình.
Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ.