Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" do sinh viên Lý Văn Hồ (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) thực hiện năm 2019 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Mạnh Thắng.
Khóa luận được xây dựng xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng. Tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 485.044 ha, trong đó đất nông nghiệp (bao gồm đất lâm nghiệp) chiếm 85%, đất phi nông nghiệp chiếm 4,35% và đất chưa sử dụng chiếm 10,65%. Nhằm khai thác thế mạnh địa phương, Nghị quyết số 02-NQ/ĐH ngày 17/10/2015 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI (nhiệm kỳ 2015 – 2020) đã xác định chương trình trọng tâm là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu và sức cạnh tranh. Trong định hướng đó, cây dong riềng được xác định là một trong những cây trồng mũi nhọn.
Tại huyện Na Rì, xã Côn Minh là địa bàn có diện tích trồng, chế biến và tiêu thụ miến dong lớn. Tuy nhiên, hoạt động của ngành hàng miến dong tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, cấu trúc thị trường biến động và sự phân bổ chi phí, lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi chưa thực sự đồng đều.
Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu, phân tích thực trạng ngành hàng miến dong, hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành hàng miến dong, góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho các hộ nông dân tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để tìm ra thuận lợi và khó khăn trong sản xuất miến dong.
- Xác định các tác nhân, phân tích kinh tế và lợi ích của các tác nhân tham gia vào ngành hàng.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng: xác định những lợi thế, cơ hội, cản trở và nguy cơ thách thức đối với các tác nhân trong ngành hàng.
- Đề xuất các giải pháp hành động để thực hiện chiến lược phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi giá trị ngành hàng miến dong trên phương diện kinh tế, bao gồm các hộ trồng dong riềng, các xưởng chế biến tinh bột dong riềng, các xưởng sản xuất miến dong, các đại lý, cửa hàng bán buôn và bán lẻ.
- Phạm vi nội dung: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong và đề xuất định hướng giải pháp phát triển kinh tế cho người dân.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 13/8/2018 đến ngày 23/12/2018; các số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2018 nhằm mô tả thông tin, hoạt động của các tác nhân trong năm 2017; các dữ liệu thứ cấp về diện tích và sản lượng được tổng hợp trong giai đoạn 2015 – 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu kinh tế nông thôn ứng dụng, kết hợp phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị và phân tích ngành hàng nông sản với các công cụ khảo sát thực địa.
Khung lý thuyết và khái niệm
Tác giả vận dụng phương pháp phân tích ngành hàng (Filière approach) hình thành từ thập niên 1960 tại Pháp và phát triển trong các thập niên 1980, 1990:
- Định nghĩa ngành hàng của J.P. Boutonnet (INRA France, 1990): Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài.
- Định nghĩa của Fabre: Ngành hàng là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng; mô hình hóa tổ chức của các luồng vật chất, luồng tài chính và cơ chế điều tiết.
- Các khái niệm nền tảng: Tác nhân (agent - cá nhân hoặc đơn vị kinh tế), Mạch hàng (khoảng cách và quan hệ kinh tế giữa 2 tác nhân), Luồng hàng (chuỗi kế tiếp từ điểm đầu đến điểm cuối), Kênh tiêu thụ (kênh trực tiếp, kênh gián tiếp đơn giản và kênh gián tiếp phức tạp).
- Ba dạng dịch chuyển luồng vật chất: Dịch chuyển về mặt thời gian (bảo quản, dự trữ điều tiết mùa vụ), dịch chuyển về mặt không gian (kết nối vùng sản xuất với vùng tiêu thụ), dịch chuyển về mặt tính chất/hình thái (chế biến tạo sản phẩm mới).
- Khung kinh nghiệm phát triển nông sản quốc tế: Chiến lược phát triển nông nghiệp theo vùng, trợ cấp dịch vụ khuyến nông và chế biến nông sản của Malaysia; mô hình thâm canh xuất khẩu, cơ giới hóa máy móc công suất 5–12 mã lực và thiết lập mạng lưới chợ đầu mối của Thái Lan.
Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu kết hợp hai nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Côn Minh, số liệu thống kê huyện Na Rì, các công trình nghiên cứu và tài liệu chuyên ngành về cây dong riềng (Canna edulis / Indica).
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp (PVTT) bằng bảng hỏi cấu trúc được thiết kế riêng cho từng nhóm tác nhân, kết hợp các cuộc thảo luận nhóm với cán bộ chuyên môn địa phương.
| STT |
Tác nhân trong ngành hàng |
Số lượng mẫu quan sát |
Phương pháp nghiên cứu |
| 1 |
Hộ sản xuất dong riềng |
30 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi |
| 2 |
Xưởng sản xuất tinh bột dong riềng |
5 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi |
| 3 |
Xưởng sản xuất miến dong |
5 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi |
| 4 |
Người bán buôn |
5 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi |
| 5 |
Người bán lẻ |
5 |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi |
| Tổng |
Toàn chuỗi ngành hàng |
50 |
Phỏng vấn trực tiếp |
Phương pháp phân tích và hệ thống chỉ tiêu
- Phương pháp phân tích số liệu:
- Phương pháp thống kê mô tả: Tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân bằng phần mềm Excel nhằm phản ánh thực trạng sản xuất và lưu thông.
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận (C-B): Xác định chi phí đầu vào, doanh thu và sự phân bổ lợi ích kinh tế giữa các tác nhân trên 1 đơn vị sản phẩm (1 kg miến dong thành phẩm).
- Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu nội tại kết hợp cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài.
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế:
- Chi phí trung gian: $\text{IC} = \sum (C_j \times G_j)$ (trong đó $C_j$ là số lượng đầu vào thứ $j$, $G_j$ là đơn giá đầu vào thứ $j$).
- Giá trị gia tăng: $\text{VA} = \text{TR} - \text{IC} = \text{GO} - \text{IC}$ (trong đó $\text{TR}$ là tổng doanh thu, $\text{GO}$ là giá trị sản xuất).
- Thu nhập hỗn hợp: $\text{MI} = \text{VA} - (A + T + \text{LT})$ (với $A$ là khấu hao tài sản cố định, $T$ là thuế sản xuất, $\text{LT}$ là chi phí thuê lao động).
- Lợi nhuận (giá trị gia tăng thuần): $\text{LN} = \text{GTGT} - \text{Chi phí tăng thêm}$.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu thiết lập tính cấp thiết của đề tài dựa trên chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bắc Kạn và tiềm năng phát triển cây dong riềng tại huyện Na Rì. Tác giả chỉ ra rằng dù thị trường miến dong Côn Minh đã có bước chuyển biến sang sản xuất hàng hóa nhưng liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, phân chia lợi ích chưa hợp lý. Phần này công bố mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể), xác định đối tượng, phạm vi không gian tại xã Côn Minh và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của công trình.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần này hệ thống hóa cơ sở khoa học về lý thuyết ngành hàng, phân tích cấu trúc kênh tiêu thụ và quy trình thực hiện phân tích tài chính, kinh tế cho chuỗi giá trị nông sản. Về mặt thực tiễn, tác giả tổng kết:
- Nguồn gốc và đặc tính cây dong riềng: Tên khoa học Canna edulis (Indica), xuất xứ Nam Mỹ, du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 19. Cây có khả năng chịu bóng, chịu hạn, thích nghi tốt trên đất dốc miền núi.
- Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết bài học hỗ trợ nông dân nhỏ và chế biến nông sản quy mô nông thôn của Malaysia; kinh nghiệm quy hoạch vùng sản xuất thâm canh, cơ giới hóa và xây dựng chợ đầu mối bán buôn của Thái Lan.
- Thực trạng sản xuất miến trong nước: Khảo sát mô hình làng nghề miến dong Khoái Châu, Lai Trạch (tỉnh Hưng Yên) và mô hình chế biến miến Việt Cường (tỉnh Thái Nguyên - với các chỉ tiêu dinh dưỡng: tinh bột 84,4%, protein 0,84%, lipit 0,05%, độ ẩm 13,46%) để làm cơ sở so sánh với miến Côn Minh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu thực địa tại xã Côn Minh từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018. Tác giả thiết lập cơ cấu chọn mẫu điều tra với 50 quan sát thuộc 5 nhóm tác nhân trong chuỗi. Phần này xác định rõ các bước làm sạch phiếu điều tra, nhập liệu và xử lý trên Excel; đồng thời lượng hóa các công thức toán học xác định chi phí trung gian (IC), giá trị gia tăng (VA), thu nhập hỗn hợp (MI) và lợi nhuận thuần (LN) áp dụng cho từng chủ thể.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phát hiện thực nghiệm chính:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Côn Minh:
- Tự nhiên: Tổng diện tích 6.356,11 ha, đồi núi chiếm 90% diện tích; có tuyến Quốc lộ 3B chạy qua; mạng lưới thủy văn gồm 30,13 ha sông suối (suối Bản Lài, Nà Cằm, Nà Tiệu, Khuổi Mằng, Khuổi Pậu). Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình 22,5°C (cao nhất 37°C, thấp nhất 5°C), lượng mưa trung bình 1.600 mm/năm, lượng bốc hơi 854 mm, tổng số giờ nắng 1.450 giờ/năm.
- Kinh tế: Cơ cấu kinh tế năm 2017 gồm Nông nghiệp chiếm 78,38%; Dịch vụ - Thương mại chiếm 13,82%; Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp chiếm 7,8%.
- Xã hội: Toàn xã có 673 hộ với 2.725 nhân khẩu; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 28,97% (195 hộ), hộ cận nghèo chiếm 22,59% (152 hộ); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,01%.
- Sản xuất nông nghiệp chung: Diện tích lúa 200 ha (sản lượng đảm bảo mức bình quân 380 kg thóc/người/năm); ngô 145 ha (sản lượng 600 tấn); chè 5,51 ha; tổng đàn gia súc 813 con, đàn lợn 2.436 con, gia cầm 17.000 con.
| Năm |
Diện tích trồng dong riềng (ha) |
Sản lượng củ tươi (tấn) |
| 2015 |
75,38 |
5.276 |
| 2016 |
76,18 |
5.332 |
| 2017 |
102,34 |
7.163 |
Năng suất bình quân đạt 75 tấn/ha; riêng diện tích 64 ha chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang thâm canh lên luống cao trong 2 năm đạt năng suất 100 tấn/ha. Toàn xã có 14 cơ sở chế biến miến dong với công suất 7 – 10 tấn củ/ngày.
- Cấu trúc chuỗi giá trị và quy trình kỹ thuật:
- Hệ thống 5 tác nhân chính: Hộ trồng dong riềng (tập trung tại các thôn Bản Cào, Bản Cuôn, Bản Lài, Lùng Vạng) $\rightarrow$ Xưởng chế biến tinh bột $\rightarrow$ Xưởng sản xuất miến $\rightarrow$ Người bán buôn $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
- Quy trình chế biến 7 công đoạn: (1) Rửa và nghiền củ dong riềng $\rightarrow$ (2) Lắng và lọc bột $\rightarrow$ (3) Lò hơi liên hoàn (tráng bánh) $\rightarrow$ (4) Tráng bánh trên phên $\rightarrow$ (5) Hong khô bánh $\rightarrow$ (6) Thái bánh thành sợi $\rightarrow$ (7) Phơi khô tự nhiên và đóng gói.
- Đặc điểm lao động xưởng miến: Xưởng nhỏ thuê 3 – 5 lao động, xưởng quy mô lớn thuê 10 – 15 lao động, cơ sở Tài Hoan sử dụng tới 20 lao động thường xuyên; mức thù lao dao động từ 150.000 – 180.000 đồng/người/ngày.
- Các kênh tiêu thụ miến dong Côn Minh:
- Kênh 1 (Kênh trực tiếp): Xưởng sản xuất $\rightarrow$ Người tiêu dùng (chủ yếu là các hộ làm quy mô nhỏ bán tại chỗ).
- Kênh 2 (Kênh gián tiếp ngắn): Xưởng sản xuất $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
- Kênh 3 (Kênh gián tiếp dài): Xưởng sản xuất $\rightarrow$ Người bán buôn $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng (chiếm tỷ trọng lưu thông lớn nhất trong chuỗi).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tác giả tóm tắt toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và đưa ra các nhóm khuyến nghị tập trung:
- Thành lập Hợp tác xã (HTX) sản xuất miến dong: Gom các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành tổ chức kinh tế tập thể nhằm chuẩn hóa quy trình, đồng bộ chất lượng và bao bì sản phẩm.
- Tăng cường sự liên kết giữa các tác nhân: Thiết lập hợp đồng tiêu thụ giữa người trồng dong riềng, xưởng bột và xưởng miến; giảm thiểu tình trạng ép giá và rủi ro đứt gãy nguồn cung.
- Hỗ trợ kỹ thuật và xúc tiến thương mại: Khuyến nông chuyển giao công nghệ làm khô chủ động giảm phụ thuộc vào thời tiết; mở rộng thị trường ra ngoài các tỉnh lân cận (Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu
- Quy mô và năng lực sản xuất: Giai đoạn 2015 – 2017, diện tích dong riềng tại Côn Minh tăng từ 75,38 ha lên 102,34 ha; sản lượng củ tăng từ 5.276 tấn lên 7.163 tấn. Xã đã xây dựng được 14 cơ sở chế biến miến dong đạt công suất 7 – 10 tấn củ/ngày.
- Hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Việc chuyển đổi đất ruộng trũng kém hiệu quả sang trồng dong riềng lên luống cao đạt năng suất 100 tấn/ha (cao hơn 25 tấn/ha so với mức bình quân 75 tấn/ha trên đất đồi dốc), thực hiện được 64 ha trong 2 năm (32 ha/năm).
- Tạo việc làm và thu nhập nông nhàn: Ngành nghề chế biến miến giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng trăm lao động với mức thu nhập 150.000 – 180.000 đồng/ngày. Các xưởng sản xuất quy mô từ 3 đến 20 lao động/cơ sở.
- Cấu trúc phân phối: Sản phẩm tiêu thụ nội địa thông qua 3 kênh phân phối chính, trong đó Kênh 3 (Xưởng $\rightarrow$ Bán buôn $\rightarrow$ Bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng) đóng vai trò trung tâm trong việc đưa miến Côn Minh đến các thị trường ngoài tỉnh như Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh và miền Trung, miền Nam.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tổ chức sản xuất: Thành lập Hợp tác xã miến dong Côn Minh để tạo tư cách pháp nhân ký kết hợp đồng thương mại lớn, thống nhất nhãn mác, bao bì và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Vùng nguyên liệu: Mở rộng diện tích trồng thâm canh lên luống, ổn định diện tích trên 100 ha/năm; tránh tình trạng diện tích sụt giảm đột ngột sau khi các dự án hỗ trợ kết thúc.
- Kỹ thuật và công nghệ: Khắc phục hạn chế của việc phơi miến hoàn toàn dựa vào nắng tự nhiên (gây đình trệ sản xuất khi thời tiết mưa rét cuối năm) bằng việc nghiên cứu áp dụng hệ thống nhà sấy hoặc công nghệ sấy chủ động.
- Chính sách và thị trường: Ngân hàng hỗ trợ vốn vay ưu đãi; cán bộ khuyến nông tập huấn kỹ thuật; chính quyền xã xúc tiến quảng bá tại các hội chợ nông sản.
Đóng góp của đề tài
Công trình cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết về toàn bộ các khâu từ trồng trọt, sơ chế tinh bột, sản xuất miến đến lưu thông thương mại tại một địa bàn cấp xã miền núi khó khăn. Nghiên cứu đã lượng hóa được quy mô sản xuất, chu chuyển hàng hóa và nhận diện rõ các điểm nghẽn kỹ thuật (phơi tự nhiên, liên kết lỏng lẻo) của làng nghề miến dong Côn Minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát giới hạn tại xã Côn Minh, huyện Na Rì; chưa mở rộng so sánh với các vùng sản xuất miến dong khác trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
- Dung lượng mẫu của các tác nhân trung gian thương mại (người bán buôn: 5 mẫu, người bán lẻ: 5 mẫu) còn ở mức tối thiểu, chủ yếu phản ánh các kênh phân phối truyền thống.
- Số liệu tài chính phụ thuộc vào lời kể và sổ sách ghi chép không đồng nhất của các hộ sản xuất cá thể do bà con chưa có thói quen hạch toán kế toán chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá chuỗi giá trị trên phạm vi liên huyện tại tỉnh Bắc Kạn.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sấy năng lượng mặt trời hoặc sấy nhiệt khép kín nhằm nâng cao tính chủ động cho các cơ sở sản xuất trong mùa đông.
- Đánh giá sâu hơn về khía cạnh môi trường trong chuỗi, đặc biệt là công tác xử lý chất thải, nước thải từ khâu nghiền và lọc lắng tinh bột củ dong.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên: Thuộc các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế nông thôn cần tài liệu thực tế về phương pháp phân tích ngành hàng (Filière) và chuỗi giá trị nông sản vùng cao.
- Cán bộ quản lý địa phương: UBND xã Côn Minh, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Na Rì, các cơ quan khuyến nông có thể tham khảo các số liệu thực trạng và giải pháp tổ chức HTX để xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP, phát triển kinh tế nông thôn.
- Phần nội dung giá trị nhất: Quy trình công nghệ chế biến 7 bước; sơ đồ chuỗi giá trị và ma trận mẫu quan sát thực nghiệm 5 tác nhân tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu kinh tế và đặc điểm dân số của xã Côn Minh năm 2017 được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Năm 2017, cơ cấu kinh tế xã Côn Minh gồm: Nông nghiệp chiếm 78,38%; Dịch vụ - Thương mại chiếm 13,82%; Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp chiếm 7,8%. Toàn xã có 673 hộ với 2.725 nhân khẩu; tỷ lệ hộ nghèo là 28,97% (195 hộ) và hộ cận nghèo là 22,59% (152 hộ).
2. Diện tích và sản lượng dong riềng tại xã Côn Minh biến động ra sao trong giai đoạn 2015 – 2017?
Diện tích và sản lượng củ dong riềng tăng liên tục: Năm 2015 đạt 75,38 ha (5.276 tấn); năm 2016 đạt 76,18 ha (5.332 tấn); đến năm 2017 đạt 102,34 ha (7.163 tấn). Năng suất bình quân đạt 75 tấn/ha; riêng mô hình thâm canh lên luống trên đất ruộng đạt 100 tấn/ha.
3. Dung lượng mẫu điều tra thực tế trong nghiên cứu được phân bổ như thế nào?
Tổng dung lượng mẫu khảo sát là 50 quan sát thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, bao gồm: 30 hộ sản xuất dong riềng, 5 xưởng chế biến tinh bột, 5 xưởng sản xuất miến dong, 5 người bán buôn và 5 người bán lẻ.
4. Quy trình chế biến miến dong tại các xưởng ở xã Côn Minh gồm những công đoạn nào?
Quy trình gồm 7 công đoạn nối tiếp: (1) Rửa và nghiền củ dong riềng $\rightarrow$ (2) Lắng và lọc bột $\rightarrow$ (3) Đưa vào lò hơi liên hoàn (máy tráng) $\rightarrow$ (4) Tráng bánh trên phên $\rightarrow$ (5) Hong khô bánh $\rightarrow$ (6) Thái bánh thành sợi $\rightarrow$ (7) Phơi khô tự nhiên và đóng gói thành phẩm.
5. Mức thuê nhân công và quy mô lao động tại các cơ sở chế biến miến Côn Minh là bao nhiêu?
Các cơ sở nhỏ thuê từ 3 – 5 lao động, cơ sở lớn thuê 10 – 15 lao động (riêng xưởng Tài Hoan có thời điểm sử dụng 20 lao động thường xuyên). Tiền công chi trả cho người lao động đạt từ 150.000 đến 180.000 đồng/người/ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Văn Hồ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phản ánh chi tiết thực trạng chuỗi giá trị ngành hàng miến dong tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng lớn về thổ nhưỡng và chất lượng sản phẩm truyền thống, đồng thời lượng hóa được sự tăng trưởng về diện tích, sản lượng dong riềng giai đoạn 2015 – 2017 cùng hiệu quả tạo việc làm của 14 cơ sở chế biến trên địa bàn. Các phân tích thực chứng về điểm nghẽn trong phơi sấy tự nhiên và kênh phân phối trung gian là căn cứ xác đáng để tác giả đề xuất thành lập hợp tác xã và tăng cường liên kết chuỗi, phục vụ mục tiêu nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.