Chương 1: Giới thiệu về sự cần thiết trong xã hội hiện nay của đề tài nghiên cứu. Phân tích nguyên nhân tại sao chúng ta cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ, ở 6 độ tuổi nào chúng ta nên thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, dựa trên các khuyến cáo của các tổ chức y tế có uy tín và lời khuyên của các chuyên gia. Nêu rõ đối tượng của đề tài nghiên cứu, tại sao đề tài lại tập trung vào độ tuổi của đối tượng nghiên cứu từ bốn mươi tuổi trở lên. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài, để trả lời những câu hỏi nghiên cứu nào.
Giới thiệu về phương pháp mà người nghiên cứu sử dụng để làm sáng tỏ vấn đề và phạm vi mà nghiên cứu này khảo sát để nghiên cứu. - Chương 2: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết mà người nghiên cứu vận dụng trong lý luận của đề tài, các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện bởi những người đi trước, người nghiên cứu đã vận dụng cho nghiên cứu của mình. - Chương 3: Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu mà người nghiên cứu sử dụng, đó là nghiên cứu định tính và định lượng trong nghiên cứu của mình. Phương pháp phỏng vấn tay đôi, phương pháp thu nhập dữ liệu, giới thiệu về mô hình Logistic.
- Chương 4: Giới thiệu về kết quả nghiên cứu được từ phương pháp nghiên cứu định tính, đưa ra khung phân tích sử dụng cho việc nghiên cứu định lượng, định hình các biến tác động, kết quả nghiên cứu từ nghiên cứu định lượng. - Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách của người nghiên cứu, dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được. - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ Kiểm tra sức khỏe định kỳ tức là người dân ít nhất một lần trong năm đến trung tâm chăm sóc sức khỏe, để được các bác sỹ thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho mình.
Các việc cụ thể được thực hiện như sau ( Theo quy định của thông tư số 13/2007/ TT – BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y Tế. ): - Tiếp nhận hồ sơ và hoàn thành các thủ tục hành chính: Đối tượng khám sức khỏe có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, trung thực các thông tin cá nhân, tình trạng sức khỏe hiện tại, tiền sử bệnh tật của bản thân và gia đình trong phần tiền sử của đối tượng khám sức khỏe. - Khám thể lực: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số BMI, mạch, nhiệt, huyết áp và nhịp thở. - Khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa.
- Khám cận lâm sàng. o Cận lâm sàng bắt buộc: Công thức máu, đường máu. Xét nghiệm nước tiểu: Tổng phân tích nước tiểu ( đường, protein, tế bào.) Chụp X quang tim phổi thẳng, nghiêng. Thực hiện theo chỉ định của bác sỹ lâm sàng.
o Cận lâm sàng khác: Đối tượng khám sức khỏe phải được làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng khác khi có chỉ định của bác sỹ lâm sàng, hoặc yêu cầu của đối tượng khám sức khỏe. - Các bác sỹ khám lâm sàng phải phân loại sức khỏe, ký và ghi rõ họ tên vào giấy chứng nhận sức khỏe, sổ khám sức khỏe định kỳ và phải chịu trách nhiệm về kết luận của mình. Người ghi các kết quả cận lâm sàng phải ký và ghi rõ họ tên vào giấy chứng nhận sức khỏe, sổ khám sức khỏe định kỳ.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SỨC KHỎE ( Peter Zweifel( 2009) ) Để trả lời cho những câu hỏi thường gặp khi chúng ta buộc phải bỏ tiền ra để thực hiện một việc nào đó trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, ví dụ: chúng ta có nên thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hay không? Chúng ta có nên tiến hành tầm soát ung thư hay không? Chúng ta có nên tiến hành một chương trình khuyến khích người dân ăn sáng hay không? Chúng ta có nên tiến hành chương trình giám sát thị lực ở trường học không?.Để có cơ sở trả lời cho các câu hỏi trên, lý thuyết về kinh tế học sức khỏe sẽ cung cấp cho ta các công cụ trả lời dưới góc độ kinh tế, công bằng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.1 Nguyên lý xác định giá trị kinh tế của sức khỏe.1 Tầm quan trọng của việc xác định giá trị kinh tế trong lĩnh vực sức khỏe. “ Sự sống là vô giá” là một luận điểm phổ biến mà nhiều người sẽ đồng ý.
Nhưng những quyết định trong vấn đề cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe không chỉ là của những cá nhân mà còn đến từ phía các nhà hoạch định chính sách. Ta có hai vấn đề cần giải quyết: Bảo vệ hay kéo dài mạng sống của một con người – Tiêu tốn những nguồn lực có hạn của xã hội. Ta có một quyết định mang tính đánh đổivà đó là một quyết định quan trọng. Cho một quyết định như vậy, ta cần những phân tích mang tính hệ thống, cân nhắc kỹ lưỡng những yếu tố liên quan.
Những phân tích kinh tế theo hướng định giá, ở một mức độ nào đó, thỏa mãn những đòi hỏi trên vì ít nhất có ba lý do sau đây: - Tất cả những phương án khả thi đều phải được đề cập, thế nên phân tích đánh giá cần có tính hệ thống. Đôi khi trong lúc cân nhắc quyết định về việc đưa ra một phương án chăm sóc sức khỏe mới, người ta không nhắc đến các phương án có sẵn như một chọn lựa. Hoặc trong trường hợp các phương án phòng ngừa cũng có thể được coi như phương án tốt bên cạnh các phương án điều trị, và nên được thêm vào danh sách lựa chọn. Nên để ý rằng khi một phương án mới được đem ra so sánh với một phương án có sẵn thì bản thân phương án có sẵn nên đạt hiệu quả về mặt chi phí.
Một phương án sẽ không hiệu quả nếu có một phương án khác cho kết quả tương tự nhưng với chi phí thấp hơn. 9 - Những phân tích xác định giá trị kinh tế thường dựa trên quan điểm của một nhóm người nào đó, điều này rất quan trọng. Một phương án có thể không hấp dẫn cho một bên nào đó, nhưng lại hiệu quả trong quan điểm của những bên khác. Trong thực tiễn quan điểm có thể khác nhau từ các phía: cá nhân bệnh nhân; các cơ quan, định chế; nhóm mà các dịch vụ y tế nhắm đến, ngân sách của bộ y tế, ngân sách của chính phủ và các quan điểm mang tính cộng đồng hay xã hội.
- Nếu không có những sự đo lường nghiêm túc, sự không chắc chắn trong xếp hạng thứ tự quan trọng là rất lớn. Nếu không có nỗ lực trong việc đo lường và so sánh những giá trị đầu ra và đầu vào, chúng ta có rất ít cơ sở để đưa ra kết luận.2 Xác định giá trị kinh tế trong lĩnh vực sức khỏe là gì? Với mọi hoạt động mà một phân tích kinh tế nhắm đến, nó có hai tính chất: - Thứ nhất nó tính đến đầu vào và đầu ra của quá trình ( hay còn gọi là chi phí và kết quả ). - Thứ hai về bản chất, những phân tích kinh tế liên quan tới lựa chọn. Nguồn lực là khan hiếm và sự thật hiển nhiên là không thể sản xuất ra một sản lượng thỏa mãn mọi mong muốn.
Vì vậy, người ta phải lựa chọn và đánh đổi. Những lựa chọn được đưa ra trên nhiều tiêu chuẩn cơ sở, đôi khi rõ ràng, đôi khi không. Những phân tích kinh tế sẽ xác định và làm rõ một nhóm những tiêu chuẩn có thể giúp cho việc lựa chọn giữa các phương án. Hai tính chất trên dẫn đến việc các phân tích xác định giá trị kinh tế được định nghĩa như một phân tích so sánh những phương án khác nhau về mặt chi phí và kết quả.
Vì thế nhiệm vụ cơ bản của bất cứ một phân tích xác định giá trị kinh tế nào, đều là xác định, đo lường, tính toán thành giá trị và so sánh chi phí và kết quả của các phương án được đề ra. Phân tích kinh tế trong vấn đề sức khỏe không phải là một ngoại lệ.3 Tổng quan về những kỹ thuật xác định giá trị kinh tế. - Phân tích hiệu quả chi phí ( CEA ): Phân tích hiệu quả chi phí là phương pháp dùng cho việc đánh giá kết quả và chi phí của những dự án cải thiện sức khỏe. Các nghiên cứu dạng này đã được dùng để so sánh chi phí và số năm sống thêm cho 10 những phương án y tế khác nhau.
Kết quả của nghiên cứu thường được tổng kết dưới dạng một chuỗi những tỉ số hiệu quả chi phí cho những nhóm bệnh nhân khác nhau hoặc các phương án khác nhau. Những phân tích dạng này đo lường sức khỏe theo thước đo “ tự nhiên” , thước đo này có thể là một thước đo y học, hoặc tuổi thọ. Thước đo này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp những phương án khác biệt trong một tác động nào đó và không có tác dụng phụ. Đối với những phương án độc lập với nhau, chỉ số dùng để so sánh là chỉ số hiệu quả trung bình ( ACER ).
Nếu hiệu quả được đo bằng số năm tuổi thọ, chỉ số so sánh này có dạng: ACER = Chi phí bằng tiền/ Kết quả tính bằng số năm tăng lên trong tuổi thọ. Nếu những phương án có tính loại trừ, ta cần xem xét tỷ lệ mức tăng lên trong chi phí đối với mức tăng lên trong lợi ích. Trong trường hợp này chúng ta dùng “ tỷ số tăng hiệu quả chi phí “ ( ICER ). “ Tỷ số tăng hiệu quả chi phí” của một phương án được định nghĩa bằng tỷ số của mức tăng trong chi phí và mức tăng trong hiệu quả khi so sánh với phương án hiệu quả tiếp theo.
ICER = Chi phí tăng lên/ Kết quả tăng lên. - Phân tích chi phí thỏa dụng Đo lường mức thỏa dụng: Một vài khái niệm về mức thỏa dụng đã được phát triển để gộp những tác động đa chiều của một phương án lại thành một tác động một chiều. Trong số chúng, những thước đo sau đây là phổ biến nhất. Tuổi thọ giảm đi điều chỉnh theo mức độ khuyết tật ( DALY ): Khái niệm này được phát triển từ năm 1993 trong báo cáo phát triển Thế giới của World Bank.
DALY đo lường mức giảm xuống của tuổi thọ có tính đến mức giảm của sức khỏe so với một mức chuẩn về tuổi thọ kỳ vọng là 80 năm cho nam giới và 82,5 năm cho nữ giới.