Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DÂN SỐ VÀ BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ 1. Khái niệm dân số Dân số là tập hợp những con người đang sống ở một vùng địa lí hoặc một không gian nhất định 1. Các học thuyết về dân số 1. Học thuyết của Mantuyt về dân số Đề cập đến vấn đề gia tăng dân số, không thể không nhắc đến thuyết Mantuyt T.Mantuyp (Malthus) (1766-1834) là một mục sư - nhà kinh tế học người Anh, người xây dựng nên học thuyết dân số.
Thuyết Mantuyp một mặt bao gồm hệ thống quan điểm về tái sản xuất dân cư và vai trò của nó trong việc phát triển xã hội và mặt khác, phản ánh đặc điểm lịch sử của quy luật dân số.[29] Phần trung tâm của học thuyết có thể được tóm tắt trong luận điểm: Dân số tăng theo cấp số nhân, phương tiện sinh hoạt chỉ tăng theo cấp số cộng nên tụt lại sau và càng ngày càng chênh lệch so với dân số. Ông cho rằng dân cư trên trái đất phát triển nhanh hơn khả năng nuôi sống dân số đó. Và vì vậy, cần phải điều chỉnh mức sinh đẻ bằng cách kiềm chế tình dục hoặc xây dựng gia đình muộn hơn. Nhìn chung ở nhiều nơi tên thế giới, tốc độ phát triển kinh tế cần thiết không theo kịp tốc độ gia tăng dân số.
Tuy nhiên, thực chất chủ yếu của quan điểm Mantuyp không phải là việc đặt giới hạn cho số người trên trái đất, mà là việc giải thích sai lầm bản chất động lực dân số, cắt nghĩa không đúng những hậu quả xã hội do động lực dân số gây ra và đề ra các phương pháp sai lệch để hạn chế gia tăng dân số. Theo quan niệm của ông, sự đam mê tình dục sẽ làm cho dân số tăng với điều kiện phải có nguồn lương thực, thực phẩm đảm bảo. Con người, nhìn chung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn sẽ không hạn chế mức sinh đẻ dưới mức tối đa về phương diện sinh học. Nếu nguồn thu nhập cao hơn mức đủ để sống, con người sẽ xây dựng gia đình sớm hơn, có nhiều con hơn.
Nhưng tình hình đó chỉ mang lại tính chất tạm thời. Sẽ đến mức dân số thế giới tăng tới mức tận dụng hết diện tích đất đai, lúc ấy, mức sống sẽ giảm xuống nhanh chóng. Từ đó ông đề cập đến các nhân tố liên quan tới tỷ lệ tử vong , mà ông gọi là “hạn chế mạnh”. Về những “hạn chế mạnh”, ông tính cả các tai họa làm chết người hàng loạt như nạn đói, dịch bệnh.
Ông cho là chính các tai họa đó có tác dụng hạn chế số dan một cách rất hiệu quả. Theo ông, nhân dân, chủ yếu người lao động đã sinh đẻ bừa bãi gây ra nạn “nhân mãn” làm cho xã hội đói khổ. Chiến tranh, dịch bệnh. sinh ra là tất yếu để hạn chế sự gia tăng dân số.
Mãi đến sau này, ông mới thừa nhận khả năng xuất hiện nhân tố hạn chế thứ hai, không mạnh bằng loại trước, gọi là hạn chế liên quan đến mức sinh. Một hạn chế khác về mặt khoa học là ở chỗ cho rằng quy luật dân số là quy luật tự nhiên và vĩnh viễn. Rõ ràng, dùng các quy luật sinh vật thuần túy để giải thích sự gia tăng dân số là điều sai lầm, bởi vì con người không phải sống đơn độc, mà là sống trong một xã hội bị các quy luật của xã hội chi phối. Sau này, những người kế tục học thuyết của ông đã đưa ra kiểu các thuyết nhiều về số lượng, đa dạng về loại hình.
Người ta thường gọi các thuyết kiểu này dưới cái tên chung là thuyết Tân Mantuyp (Mantuyp mới). Các thuyết tân Mantuyp chủ yếu hình thành nửa sau thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong số các thuyết trên, một số thuyết cực kỳ phản động, là chỗ dựa tinh thần cho bọn đế quốc. Thí dụ dựa vào các thuyết này, Hitle đã nêu ra luận điểm dân Đức đông, phải mở rộng "không gian sinh tồn" và đó là cái cớ để gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.
Việc kiểm soát sinh đẻ là một hiện tượng rất bình thường, nhất là ở các nước có nhịp độ gia tăng dân số quá cao nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho từng thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, chúng ta không thể đồng tình với cách cắt nghĩa , đặc biệt với phương pháp hạn chế sự gia tăng dân số do Mantuyp đưa ra. Vấn đề là ở chỗ làm sao giảm được mức gia tăng dân số ở đa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn số các nước đang phát triển, vừa đảm bảo được tính người trong các phương pháp kế hoạch hóa gia đình. Học thuyết quá độ dân số Quá độ dân số là một quan niệm sử dụng rất rộng rãi trong dân số học, hiện nay để lý giải sự thay đổi của các kiểu tái sản xuất dân cư trên thế giới.
Người đầu tiên đưa ra quan niệm quá độ dân số tồn tại vào thời kì 1090-1934 là nhà dân số học người Pháp Aladry cùng với việc dùng thuật ngữ “cách mạng dân số”. Sau đó, nó được nhà dân số học Hoa Kỳ F. Notestein tiếp nối và trình bày cụ thể hơn vào năm 1945. Vào cuối thế kỉ XIX, con người đã nhận thức được rằng, chi phối mức sinh và mức tử của con người là điều kiện kinh tế - xã hội.
Trong quá trình phát triển của lịch sử diễn ra nhiều sự thay đổi sâu sắc về chất của các kiểu tái sản xuất dân cư. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, phạm trù “kiểu tái sản xuất dân cư” ngày càng được hoàn thiện. Ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội, đó là sự thống nhất vốn có giữ cường độ của quá trình dân số (sinh, tử, hôn nhân) và cơ chế điều chỉnh mang tính chất xã hội của các quá trình này [7]. Quan niệm quá độ dân số như sự thay đổi các kiểu tái sản xuất dân cư do xã hội tạo ra là hướng lý thuyết quá trình của khoa học dân số.
Trên thực tế, quan niệm trên phát triển mạnh tới mức đã được coi là thuyết quá độ dân số. Song, cho đến những năm 80 của thế kỉ này vẫn chưa có một cấu trúc chung về quá độ dân số được mọi người thừa nhận trong khi giải thích các nhân tố xã hội cụ thể quyết định hành vi dân số cũng như kết cấu và điều kiện hình thành các kiểu tái sản xuất dân cư. Quan điểm về sự hợp lý hóa do Ladry và Notestein đưa ra đối lập giữa sự hạn chế có tính nhận thức về số con trong gia đình ở xã hội công nghiệp với hành vi sinh sản không hợp lí của con người trong xã hội nông nghiệp truyền thống. Hành vi sinh sản truyền thống là do nhu cầu xã hội tạo nên nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất dân cư trong điều kiện hệ số tử vong cao.
Nhu cầu trên được thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn thông qua mức sinh cao đã được xã hội chấp nhận (trong đó có cả việc cấm phá thai).[29] Sự phát triển của kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp đã làm giảm đáng kể mức tử vong, điều đó đã tạo tiền đề giảm mức sinh. Phần quan trọng của quan niệm nay là việc điều chỉnh tái sản xuất dân cư, bởi vì xét cho cùng, mức sinh bị mức tử vong chi phối. Từ đây có thể đưa ra một sơ đồ thống nhất về mặt nguyên tắc, ở giai đoạn thứ nhất là thay đổi kiểu tử vong (giảm mức tử vong ngoại sinh; trong phần lớn các trường hợp số người chết chuyển từ nhóm tuổi trẻ sang nhóm tuổi già; tăng tuổi thọ trung bình), còn ở giai đoạn thứ hai mới đã thay đổi kiểu sinh. Quãng thời gian giữa các giai đoạn, các pha của quá độ dân số, tương quan giữa nhịp độ giảm mức sinh và mức tử vong đều phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, quyết định độ dài và quy mô mức gia tăng dân số.
Song, lịch sử phát triển dân số ở các nước kinh tế phát triển cũng như ở các nước đang phát triển chứng minh sự “ vênh” ít nhiều giữa thực tiễn và sơ đồ thời gian trong quan niệm quá độ dân số. Vì vậy, các chương trình và các chính sách dân số nhằm giảm hệ số sinh ở các nước đang phát triển do các chính phủ đưa ra thường không mang lại kết quả mong đợi.[29] Quan niệm hợp lý hóa là cơ sở lý thuyết của sơ đồ phát triển và hoàn thiện việc quá độ dân số ở các khu vực trên thế giới được sử dụng trong các dự báo dân số của Liên Hiệp Quốc. Phân biệt 4 pha quá độ dân số. Kết quả cuối cùng của nó là dân số tiến tới chỗ ổn định.
Các đường theo chiều dọc giữa hai đồ thị thể hiện các pha liên tục của quá độ dân số; còn các đường ngang biểu diễn tương quan giữa mức sinh và mức tử khi dân số ổn định với mức gia tăng bằng 0. Việc phân chia các pha dựa trên cơ sở động thái giữa các hệ số (sinh, tử) chung của dân số cho phép chúng ta theo dõi quá độ dân số không chỉ trong quá khứ, hiện tại, mà cả thời điểm xa hơn khi số dân tiến đến ổn định[29], [30]. Vào khoảng giữa thế kỷ XX, các nước kinh tế phát triển đã hoàn tất pha đầu tiên. Việc giảm hệ số sinh vượt quá việc giảm hệ số tử.
Thậm chí, đôi khi mức sinh không những không giảm mà lại tăng lên. Kết quả là dân số tăng nhanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tới mức tối đa. Trong pha thứ hai, hệ số tử vong tiếp tục giảm và đạt giá trị thấp nhất, nhưng hệ sinh còn giảm nhanh hơn. Do vậy, dân số gia tăng chậm dần.
Nét đặc trưng của pha thứ ba là hệ số tử tăng lên chút ít do quá trình già đi của dân số, trong lúc ấy, hệ số sinh giảm chậm dần. Đến cuối pha này, hệ số sinh tiến dần tới tái sản xuất dân cư giản đơn; còn hệ số tử ở mức thấp hơn, bởi vì kết cấu dân số theo độ tuổi vẫn chưa ổn định và tỉ trọng dân số thuộc các nhóm tuổi có mức tử vong thấp được nâng lên. Cuối cùng, ở pha thứ tư, hệ số tử nâng lên gần bằng hệ số sinh. Quá trình ổn định dân số bắt đầu.