Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu Chương 2: Lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng báo cáo tài chính của Công ty Souvanny Home Center Public Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận 4 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2. Khái niệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp “Phân tích báo cáo tài chính là quá trình đánh giá, định lượng và đưa ra nhận định về hiệu suất tài chính của một doanh nghiệp dựa trên thông tin có sẵn trong báo cáo tài chính của nó. Báo cáo tài chính gồm ba phần chính là báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo tài sản và nguồn vốn”.
Theo Luật Kế toán số 47/NPC ngày 26 tháng 12 năm 2013, các doanh nghiệp phục vụ lợi ích của Nhà nước phải thực hiện báo cáo tài chính quốc tế. Đã có rất nhiều quan điểm về khái niệm phân tích BCTC, tiêu biểu như: “Phân tích BCTC là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên BCTC cũng các mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu trên BCTC và các dữ liệu liên quan khác nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng” (Nguyễn Văn Công, 2023, tr. “Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp” (Nguyễn Ngọc Quang, 2011, tr.
Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Ý nghĩa của phân tích BCTC là giúp người sử dụng thông tin có căn cứ tin cậy, làm giảm sự phụ thuộc vào những đánh giá chủ quan, cảm tính khi đưa ra những quyết định kinh doanh. Nhờ kết quả của việc phân tích BCTC, những người sử dụng thông tin có thể đánh giá được đúng tình hình tài chính, khả năng sinh lợi và phát triển của doanh nghiệp, lựa chọn hướng phát triển phù hợp. Vì vậy, phân tích BCTC được nhiều nhóm đối tượng quan tâm như: nhóm chủ sở hữu doanh nghiệp gồm ban giám đốc và cổ đông chính, nhóm nhà đầu tư, những ban ngành quản lý nhà nước có liên quan, nhóm chủ nợ, nhóm khách hàng, nhóm nhà cung cấp, nhóm tổ chức tài chính tín dụng, nhóm người lao động của doanh nghiệp…. Với mỗi nhóm đối tượng khác nhau, tùy theo tính chất và mức độ rủi ro khi đưa ra quyết định (quyết định đầu tư, mua hàng, bán hàng, cho vay, đi vay, góp vốn ….
) và cương 5 vị của chủ thể ra quyết định mà mục đích khi phân tích BCTC cũng khác nhau. - Đối với chủ sở hữu: Việc phân tích báo cáo tài chính giúp cho các nhà quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp đánh giá đúng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ số cấu trúc tài chính, khả năng sinh lời, vòng quay hàng tồn kho…. Từ đó đưa ra được những quyết định kinh doanh mang lại hiệu quả hơn. Đồng thời phân tích báo cáo tài chính giúp chủ sở hữu kiểm soát được hoạt động quản lý của doanh nghiệp, là cơ sở để lập kế hoạch ngân sách cho các hoạt động kinh doanh trong tương lai.
- Đối với nhà đầu tư: Khi tìm hiểu về doanh nghiệp mà mình có định hướng đầu tư, nhóm nhà đầu tư sẽ quan tâm tới các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như tỷ suất lợi nhuận/doanh thu, tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu. Từ những chỉ số này và các thông tin khác được cung cấp trong báo cáo tài chính sẽ góp phần giúp các nhà đầu tư sẽ đưa ra được quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không, đầu tư bao nhiêu và với hình thức, thời gian như thế nào. - Đối với nhà cung cấp và các tổ chức tín dụng: nhóm đối tượng này thường sẽ quan tâm tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp, và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà cung cấp sẽ quan tâm tới các chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn, chỉ số vòng quay hàng tồn kho để dự đoán về nhu cầu nhập hàng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đưa ra quyết định bán hàng và chính sách bán hàng phù hợp với doanh nghiệp.
Các tổ chức tín dụng cũng quan tâm tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đồng thời quan tâm tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đánh giá tín dụng doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng sẽ dựa vào các chỉ số khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra đánh giá tín dụng với doanh nghiêp, từ đó đưa ra quyết định có cấp tín dụng cho doanh nghiệp hay không, cấp hạn mức nào, ưu đãi tín dụng như thế nào…. - Đối với cơ quan quản lý nhà nước: các cơ quan quản lý nhà nước tùy vào chức năng của cơ quan sẽ quan tâm tới các chỉ số khác nhau trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Chẳng hạn, cơ quan thuế sẽ quan tâm tới doanh thu, lợi nhuận và thuế phải nộp của doanh nghiệp trong kỳ; cơ quan thống kê sẽ quan tâm tới các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận, số lượng lao động, ngành nghề kinh doanh chính….
- Đối với khách hàng của doanh nghiệp: nhóm khách hàng của doanh nghiệp sẽ quan tâm tới danh tiếng, uy tín và độ lớn của doanh nghiệp. Thông qua phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các khách hàng lớn có thể đánh giá được khả năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như doanh thu, khả năng thanh 6 toán, hạn mức tín dụng mà doanh nghiệp có thể huy động, các đối tác mà doanh nghiệp đã và đang làm việc …. Từ đó, khách hàng có thể đưa ra quyết định có hợp tác với doanh nghiệp hay không. - Đối với người lao động trong doanh nghiệp: những người lao động trong doanh nghiệp thường quan tâm tới hiệu quả kinh doanh và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, bởi những tiêu chí này liên quan trực tiếp tới quyền lợi của nhóm người lao động.
Như vậy, chúng ta có thể khái quát mục đích và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính như sau: - Cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. - Đánh giá thực trạng tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đánh giá tính hợp lý của cấu trúc tài chính tại thời điểm báo cáo, từ đó các nhà quản lý có căn cứ tin cậy để đưa ra các quyết định quản trị hợp lý. - Đánh giá được khả năng tài chính, khả năng sinh lợi và dự báo nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp trong tương lai. - Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết cho việc đánh giá toàn diện tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính theo chủ trương, chính sách của nhà nước.
- Cung cấp những thông tin và căn cứ để xây dụng các kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp, tạo ra hệ thống các biện pháp nhằm tăng cường sức mạnh quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực giúp doanh nghiệp phát triển. Cơ sở dữ liệu để phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2. Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích tài chính doanh nghiệp. Trong hệ thống báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm bốn báo cáo chính: Bảng cân đối kế toán, 7 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Trong đó, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được coi là tư liệu cốt yếu, cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính đóng vai trò quan trọng như nguồn dữ liệu chính cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp, cung cấp cơ sở để tính toán các chỉ số tài chính, đánh giá khả năng sinh lời, thanh toán và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, báo cáo tài chính cũng có những hạn chế nhất định như thông tin mang tính lịch sử và chịu ảnh hưởng của các ước tính kế toán. Nguồn thông tin khác Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài; Có yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng. - Các yếu tố bên trong: Các yếu tố bên trong là những yếu tố về tổ chức doanh nghiệp: trình độ quản lý, ngành nghề, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp kinh doanh, quy trình công nghệ, năng lực của lao động.
Các yếu tố bên ngoài: Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố mang tính khách quan như: chế độ chính trị xã hội, tăng trưởng kinh tế tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế. Ngoài việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, nhà phân tích còn cần tổng hợp các thông tin liên quan đến tài chính của doanh nghiệp. Điều này bao gồm thông tin chung về tình hình kinh tế, chính sách tiền tệ, thuế và các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.