TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA LUẬT HÌNH SỰ HỘI THẢO KHOA HỌC Chủ tri: Ths. Phan Thị Thanh Mai HA NỘI - 2005 DANH SÁCH BAO CÁO HỘI THẢO. X6t lợi bản án và quyết định có higu lực phép luật một số vấn để lý luận và thực tiến str | HOTEN TÊN BAO CÁO. Phan Thị| Những dấu hiệu đặc trưng cba giám đốc | 1-12 > "Thanh Mai |thẩm trong tố tung hình sự Viet nam 2.
Hoàng Thị| Can cứ kháng aghi giám đốcthẩm Minh Sơn. Dương | Một số sai lắm của Toà ấn trong việc áp Bộ Muậthình sự Tuyết Miên _ | dụng 4 |The Vũ Gia| Một vài ý kiến về cần cứ kháng nghị ei | 36-47 Lam thẩm vy án hình sự. Hoàng | Phân biệt thủ tục giám đốc thẩm và efi |48-56 Văn Hạnh | thd trong Luậttố tung hình sự nam 6. Phan Thị | Một vài vấn để về kháng nghị giấm đốc | 57-65› Thanh Mai — |thẩmvụánhìnhsự 7.
_ Nguyễn| Một số vấn để vẻ thd tục phiên toà giám | 66-74 Hãi Ninh đốc thẩm ‘Ths. Mai Thanh | Điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm |75-82 Hiếu trong tố tụng hình sự Pháp. Đỗ Thị| Quy định về thù tục giám đốc thẩm trong | Phượng. pháp luật tố tụng hình sự Việt nam và mot số nước châu & 10.| The, Trân Anh| Thủ mục giám đốc thẩm trong tố tụng hình |90-107ˆ {Tan — — |sựvàtốtụngdins _| NHUNG DẤU HIỆU ĐẶC TRUNG CUA GIÁM ĐỐC THAM 'TRONG TỐ TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Phan Thị Thanh Mai Khoa Luật hình sự~ Đại học Luật Hà nội Những dấu hiệu đặc trưng của giám đốc thấm trong tố tụng hình sự Việt Nam là những dấu hiệu cơ bin giúp chúng ta nhận thức được rõ bản chất của giám đốc thẩm và phan biệt giám đốc thẩm với các thủ tục tố tụng khác do Tòa án thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
* Dấy hiệu về đối tượng giám đốc thẩm. Đối tượng của giấm đốc thẩm trong TTHS Việt Nam là những bản án hoặc. quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Dấu hiệu này là đấu hiệu oo bản chung cho mọi hình thức giám đốc thẩm và ở mọi quốc gia và có thể nói đây là đặc điểm quan trọng có ý nghĩa quyết định để phan biệt giám đốc thẩm với các thủ tục xét xử sơ thẩm, và xét xử phúc thẩm.
“Trước hết, đối tượng của giám đốc thẩm là bản án hoặc quyết địnhcủa “Toà án mà không phải là các vụ án. Những bin án và quyết định này đều có đặc điểm chung là những vụ án đã được phán quyết bằng các bản án hoặc quyết định này đã quahaicấp xét xử hoặc các chủ thế của quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đã từ chối quyền được xét xử lại ở cấp thứ hai thông qua việc không kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Theo thông lệ chung, một vụ én có thể được x64 xử ở hai cấp, khi đã qua các cấp xét xử đó, vụ án được coi là đã giải quyết xong và không thể Ia đối tượng để đem ra xét xử lại. Toà án cấp giám đốc thẩm không xem xét, đánh giá và kết luận lại những vấn để về nội dung của vụ án vì đồ thuộc về thẩm quyên tuyệt đối của các cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
Đối tượng của giám đốc thẩm do vay không phải là các vụ án hình sự mà chỉ là các bin án hoặc quyết định thé hiện kết quả xét xử của các Toà án đối với các vụ dn 46. Việc xác định đối tượng của giám đốc thẩm đã xác định được tinh chất cơ bản của giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử thứ ba mà chỉ là việc xét lai các bản án hoặc quyết định cia Toà án Mặt khác, các bản án, quyết định là đối tượng của giám đốc thấm là những bản ấn hoặc quyết định đã cớ hiệu lực pháp luật. Theo nguyên tắc truyền thống, các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được coi “như là chân lý” và phải được thi hành. Việt Nam cũng như các nước đều quy định về nguyen tic đảm bảo hiệu lực của bin án và quyết định của Toà án.
Các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật có tính bắt buộc chung, không chỉ đối với những người có liên quan mà còn đồi hỏi phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Các hành vi cố ý không chấp hành án, cố ý không thi hành ấn hay cố ý cản trở việc thi hành án thậm chí còn có thé bị truy cứu trách nhiệm. Tuy nhiên, bản án có một hiệu lực nhất định và không có nghĩa là bản án hoặc quyết định đó khong thể bị yêu cầu xem xét lại. Về lý luận và thực tế cho thấy những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể không ‘Ging dn, Mặc dù, theo nguyên tắc hai cấp xét xử, sau khi xét xử sơ thẩm, vụ án có thể được đưa ra xét xử lại ở cấp cao hơn với HĐXX chuyên nghiệp và có trình 40 chuyên môn ở mức độ cao hon nhằm loại trừ những sai lầm trong việc giải quyết vụ án, nhưng những sai lâm trong việc giải quyết vụ án không phải đã được cấp phúc thẩm giải quyết được trệt để và thậm chí là sai lầm của chính cấp phúc thẩm - những sai lâm 46 đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết.
Vì vậy, để dim bảo sự thống nhất của pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp và đúng đắn của các bản ấn và quyết định của Toà án, luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định việc xét lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện những vi phạm pháp luật nghiêm trọng rong việc xử lý vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. * Dấấ hiệu về mạc dich của giám đốc thẩm. "Mục đích của giám đốc thẩm là nhằm đảm bảo hoạt động xét xử của Toà án đúng pháp luật, dim bảo tính hợp pháp của các bản án và quyết định của Toà 4n, đảm bảo pháp chế trong hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử của Toà án, nhất là trong lĩnh vực xét xử các vụ án hình sự, là một hoạt động áp dụng pháp luật có tính đặc thù, thể hiện rõ nét tính quyền lực Nhà nước.
Để đảm bảo việc xét xử được đúng đắn, hoạt động này cẩn phải được giám sát một cách chặt chế bằng các hình thức giám sát khác nhau: Hoạt động kiểm sắt của Viện kiểm sát vi thực hiện quyên khiếu nại và kháng cáo cơ quan, tổ chức và cá nhân có quyên và ợi ch pháp lý liên quan trong vụ án; thực hiện sự giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dan cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng v. Giám đốc thẩm là hình thức giám sát xét xử đặc biệt của Toà án, có nhiệm vụ phát hiện và huỷ bỏ các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án nếu có căn cứ cho rằng bản án hoặc quyết định đó không đảm bảo tính hợp pháp. Đây cũng là mục đích mà thủ tục giám đốc thẩm của các quốc gia khác hướng tới, ví dụ, các nhà luật học Pháp quan niệm: "Tod Phá án khong xét xứ con người mà xét xử các bản án, Toà Phá án kiểm tra các thẩm phán có vận dung đúng pháp luật không trong khi xét xử" !. Toà án cấp giám đốc thẩm xem X6t khi xết xử các Toà án cấp đưới đã hiểu và áp dụng đúng các văn bản pháp luật và các nguyen tắc pháp luật chưa.
Toà không: xem xét về sự việc, vốn thuộc thấm quyền xét xử của các thẩm phán xét xử về mặt nội dung ở Toa án cấp dưới mà chỉ Xét xem việc áp dụng luật vào các sự việc đó có đúng hay không. Về thực chất, Toà án cấp giám đốc thẩm không xử lại vụ việc mà chỉ đối chiếu bản án với quy định của pháp luật xem có phù hợp với cách giải thích cần có hay không cũng như cách giải quyết vụ án của Toà án cấp dưới có đúng thủ tục tố tụng hay không, nhằm dim bảo pháp luật được giải thích và áp dụng một cách đúng dn ‘va thống nhất, * Diu hiệu về căn cứ phát sinh giám đốc thẩm. Can cứ pháp lý làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm là kháng nghị giám đốc thẩm. Do tính chat đặc biệt của đối tượng giám đốc thẩm nên kháng nghị giám đốc thẩm cũng có những điểm khác biệt, điểm khác biệt này thể hiện ở sự chặt chẽ và có tính hạn chế về thẩm quyền kháng nghị, căn cứ kháng nghị, thời "hạn và thủ tục kháng nghị, Căn cứ làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm chỉ có thể là kháng nghị của những người có thẩm quyền, luật TTHS Việt Nam loạt trừ quyền kháng cáo giám.
Theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam, sau hai cấp xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không còn các quyền và nghĩa vụ tố tụng, mối quan hệ giữa những người này với cơ quan tiến hành tố tụng chấm dứt về mặt tố tung, vi vậy ho không có quyền được kháng cáo đối với các bản án đã phát sinh hiệu lực pháp luật, Cũng có những quan điểm cho rằng cẩn phải quy định cho người bị kết án và đương sự khác được quyên kháng các yêu cầu giám đốc thẩm, quy định như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi của công dân hơn. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm ở Việt Nam vào thời điểm hiện tai à chưa phù hợp. Lý do vì ý thức pháp luật của người dân chưa cao và còn vì một nguyên nhân đặc biệt đó là do cách nhìn truyền thống của người Việt Nam về pháp luật và pháp đình. Do lịch sử của dân tộc ta phải trải cua 1000 năm Bắc thuộc, ngay từ thời kỳ đầu nhân dân ta tiếp xúc với pháp luật thì pháp luật đó đã là pháp luật ngoại bang, là công cụ nô dịch, áp bức, đồng hoá.
của ngoại bang. Do đó, ý thức chống đối pháp luật xuất hiện ngay từ những bư đầu của thời kỳ Bắc thuộc”. Pháp luật phong kiến Việt Nam, pháp luật phong kiến nữa thuộc địa thời thuộc Pháp không làm thay đổi được tâm lý đó và tâm lý đó còn tồn tại dai ding đến tận bây giờ. Người dân thường có thái độ sợ pháp uật, không muốn sống theo pháp luật và nhìn nhận pháp luật như đối lập với mình.