mở đầu tác phẩm “Tinh than pháp luật” bằng cách tìm mối quan. hệ giữa quy luật tự nhiên với pháp luật của xã hội. Phát kiến lớn của ông là vạch. ra bốn quy luật tự nhiên của loài người.
“Quy luật đấu tiên là hỏa bình, theo sau là quy luật ne mình kiếm sống, tiếp đến là quy luật nam nữ yêu đương và cubi cùng là quy luật con người phải sống thành xã hậ?"". Có thé thấy, cả Arixtốt và S.Montersqieu, dù sống cách nhau hàng vài ngàn năm, đều đi tìm nguồn gécico sở xã hội của hiện tượng nhà nước và hiện tượng pháp luật bắt đầu tử mối quan hệ giữa người sam va người nữ trong cộng đồng xã hội. ‘Trong một xã hội văn minh, khi sự kết hợp giữa người nam và người nữ theo quy luật nam nữ yêu dương, tiến tới xây dựng hạnh phúc gia đình, mong muốn gắn bó cuộc đời bên nhau thì đây là cơ sở xã hội của việc một nha nước. bất kỳ, trong đó có Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việc Nam, xây dựng, ban hành Ludt Hén nhân và gia đình.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các Luật Hôn nhân và gia đình trước đây, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, tại kỳ bop thứ 7 đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “quy định chế độ hồn nhận và gia đình; chuẩn “mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhĩ của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng có chế độ hôn. nhân và gia đình” (Điều 1). ‘Theo lẽ thường thì việc kết hôn chỉ diễn ra giữa người nam và người nữ~ những người khác giới tinh (dj tính).
Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân ma từ trước tới nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã và đang xuất hiện ngày. 2em: Ai rờn cuẩnsich ảnh hưng khắp th gi, Nob. Hội hà văn, Hà Nội 2002, t, T1, “SL, Momtrsgie, Tịnh thản php ud, Nx, Go dc, Bà Nội, 1906 1s càng nhiều những người cing giới tính (đổng tính) có nguyện vọng, mong muốn. bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tinh”, nhưng quy định cự thé “không thừa nhận lân niin giữa những người cùng giới tink” (khoản 2 Điều 8).
Điều đó có nghĩa là, những người đồng giới tinh vẫn có thể kết hôn, tuy. nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây là sự nhìn. nhận bồn nhân giữa những người cùng giới tính của Nhà nước ta trong tình hình.
xã hội hiện nay. Trong đời sống hôn nhân và gia đình, ai cũng mong muốn một cuộc sống. hạnh phúc, vui vẽ, hòa thuận, hiểu thảo giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình. Tuy nhiên, vì rét nhiều lý do mà trong gia đình có thể xây ra các loại hành vi, như hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vì cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tinh mang; lăng mạ hoặc hanh vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm: cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường.
xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình gitta Ong, bà và cháu; giữa cha, me và con; giữa. vợ và chồng; giữa anh, chi, em với nhau; cưỡng ép quan hệ tình dục. Các loại hành vi đó là biểu hiện của nạn bạo hành trong gia đình/bạo lực gia đình. Thực tế này đòi hỏi Nhà nước phải có những quy định pháp luật nt ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi bạo lực gia đình.
Đây chính là cơ sở xã hội của việc Nha nước ta ban hành Luật Phòng, chồng bạo lực gia đồnh ngày 21/11/2007, có hiệu lye thi hành từ ngày 01/7/2008, gồm các quy định về “phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, t6 chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm: phép luật về phòng, chống bạo lực gia đình (Điều 1). Sau khi kết hôn, các cặp vợ chồng đều mong muốn sinh đẻ, nuôi day con khôn lớn, trưởng thành, trở thành người có ích cho xã hội; vữa góp phần duy trì nỏi giống của gia đình, dòng họ, vừa đóng góp cho nguồn nhân lực lao động xã hội. Gia đình là tế bào của xã hội. Các thành viên trong từng gia đỉnh tạo nên dén sé của một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành.
Tuy nhiên, quy mò dân số, cơ cấu dan số, phần bố dan cư, chất lượng din số. của một quốc gia không thể để vận động, biến đổi một cách tùy tiện, tự phát; mà đòi hỏi phải có sự quản lý bằng pháp luật nhằm bảo đảm chơ đân số phat trién theo đúng định hướng, chính sách của Nhà nước phù hợp với yêu cầu thực tiễn ở từng giai đoạn phát triển. Yêu cầu đó làm nảy sinh nhu cầu Nhà nước. ta xây dựng, ban hành Phdp /@m: đân số số 06/2003/PL-UBTVQHI1 ngày.
09/01/2003 nhằm “quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước. về dân số" (Điều 1). Ngày 27/12/2008, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban bành. Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dan số 06/2003/PL-UBTVQHI I.
Hiện nay, Quốc hội đang xúc tiến việc xây dựng Luật Dân số. Gia đình với các thành viên của nó hoặc timg cá nhân phải có nhà để ở, phái cư trú ở một nơi nhất định, được quyền khai thác, sử dụng đất đai gắn với nơi ở, sản xuất, sinh hoatv. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh từ những như cầu nêu trên, Nhà nước tất yếu phải ban hành Luật Cự trứ, Luật Đất đại, Luật Nhà Trên phương diện xã hội, méi quan hệ xã hội giữa người nam và người nữ về giới cho thấy còn đang tồn tại nhiều điểm khác biệt xã hội và có sự phân biệt đối xử, như phân biệt đối xử về năng lực chuyên môn, trình độ học vấn, vai trò va chức năng của mỗi giới, tính chất lao động và việc làm, mức lương, thu nhập, vị thé xã hội. Tình trạng định kiến, phân biệt đối xử về giới diễn ra trong xã hội và cả trong quan hệ gia đình là nền tảng, cơ sở xã hội để Nhà nước ta ghi nhận quyền bình đẳng giới trong Hiến pháp năm 2013 và các bản Hiến pháp trước.
đây; cụ thể hóa quyền bình đẳng giới thông qua việc xây dựng, ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006. “Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong, rns Tất Tus TT vn BẠI HỌC LUẬT HÀ ny dws 000, ` các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của eơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới" (Điều 1). Trên đây chỉ là vài nét phác thảo về cơ cấu giới tính và các quan hệ xã hội nay sinh cẩn điều chỉnh bằng pháp luật. Theo lôgíc của cách tiếp cận trên đây thi còn rất rất nhiều những văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước cần phải xây dựng, ban hành từ cái cơ sở xd hội {a cơ cấu giới tính.
Tắt nhiên rồi, mọi mối quan hệ xã hội trên đời này, suy cho cùng, bắt đầu từ sự két hợp giữa người dan ng và người đần bà (Arixtét) theo quy luật nam nữ yêu đương (Montersqieu). Cơ edu lâu tuổi và các quan hệ xã hội nảy sinh cần điều chỉnh bằng. pháp luật Co cấu lứa tudi là sự phân chia tổng số các thảnh viên trong xã hội theo từng độ tuổi hoặc nhóm tuổi nhất định tùy thuộc vào mục đích khảo sát, nghiên cứu được đạt ra. ; r Thứ nhất, với mục đích nghiền cứu, đánh giá nguôn nhân lực lao động trong xã hội và xu hướng biến động của nó, cơ cấu lứa tuổi có thể được phân chia thành 3 nhóm: nhóm những người chưa đến tuổi lao động (từ trẻ sơ sinh đến dưới 15 tuổi); nhóm những người dang trong độ tuổi lao động (từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam giới và đến 55 tuổi đối với nữ giới); nhóm đã hết tuổi lao động (trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đi với nữ).
Sự phân chia cơ cấu lứa cudi theo tiêu chi mục đích trên đây đòi hồi được luật hóa, thé hiện trong “Bộ luật lao động. Dĩ nhiên, độ tuổi này còn tùy thuộc vào các quy định trong, luật lao động của mỗi quốc gia. Ở day, trong việc xây dựng, ban hành Bộ luật lao động, Nhà nước ta cần đặc biệt chú ý đến nhóm những người đang trong độ tuổi lao động. Ho là những người có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh.
tế, bộ mặt xã hội va phat triển dân số của đất nước. Xã hội được cấu thành bởi nhiều nhóm xã hội. Các nhóm xã hội này khác nhau bởi các điều kiện lao động, điều kiện cư trú, sinh hoạt, sự nhận thức, hiểu biết va sự tiếp thu các giá trị truyền thống. Kết quả là mức sinh, mức chết, mức kết hôn và ly hôn của m nhóm xã hội cũng rất khác nhau.
Đến lượt mình, điều đó sẽ kéo theo như cầu, aa yêu cầu về mặt an sinh xã hội đối với người lao động, như Nhà nước phải xây dựng, ban hành Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm xã lội, Luật Bào hiểm y tế, các chính sách về phúc lợi xã hội, trợ cắp thất nghi Thứ hai, xét theo sự phat trién về thể chất và đặ điểm tâm sinh lý lứa tuổi, cơ cấu lứa tuổi có thể được phân chia thành các nhóm fré em, thanh niên, trưng. niên và người cao tuổi. ~ Ở Việt Nam, tré em là người dưới 16 tuôi, là những người đang trong giai đoạn định hình, phát triển vẻ thé chất, nhân cách, trí lực; là nhóm xã hội dang trong quá trình xã hội hóa, tìm hiểu, học hỏi các giá trị, chuẩn mye xã hội để dan dan thích nghỉ với xã hội; chưa đạt tới độ chín cần thiết để có thể tự chịu trách. nhiệm với những hành vi, vi làm của chính bán thân.
Trẻ em, do đó, trong da số các trường hợp, chưa thể tự thực hiện các quyển cơ bản của mình được ghỉ nhận trong pháp luật bởi các chưa hội đủ các phẩm chất trí tuệ, kỹ năng cần thiết. Vì lẽ đó, yêu cầu về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em bằng/dựa trên pháp.