CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỘI 1. Khái quát chung về hội 1. Khái niệm về hội Ở Việt Nam, khái niệm hội lần đầu xuất hiện trong pháp luật của Nhà nước cách mạng tại Sắc lệnh số 52 ngày 22 tháng 4 năm 1946, ngay sau khi bản Hiến pháp năm 1946 có hiệu lực thi hành. Điều 1, Sắc lệnh quy định “hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu của hai hoặc nhiều người giao ước, hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung, mục đích ấy không phải là để chia lợi tức”.
Từ đó đến nay, đất nước Việt Nam đã trải qua những giai đoạn biến đổi và phát triển không ngừng, trình độ dân trí ngày càng cao, đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước ngày càng mở rộng, đã tạo điều kiện cho các hội liên tục phát triển về chất và lượng, có vai trò ngày càng quan trọng trọng sự nghiệp xây dựng đất nước tiến lên theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh. Cho đến nay, các hội đã có những chuyển biến to lớn về số lượng, quy mô, hình thức và mục đích hoạt động, đòi hỏi sự xác định một khai niệm với ý nghĩa là một thuật ngữ luật chính thức phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội – nhằm làm cơ sở để Nhà nước có chính sách, cơ chế quản lý đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. - Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1992: “hội được hiểu là tổ chức quần chúng rộng rãi của những người chung một nghề nghiệp, có chung một hoạt động. - Điều 69, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, theo quy định của pháp luật”.
- Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được cơ quan nhà nước Luan van 9 có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu cầu chung của hội viên là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự” [26, Điều 104, Khoản 1]. - Khái niệm hội đã được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội), theo đó hội là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật. Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là hội). Trên cơ sở đó, khái niệm về hội được hiểu một cách thống nhất là: “Hội là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm, vai trò của hội a) Đặc điểm So với các hoạt động của tổ chức phi chính phủ khác, hội có một số đặc điểm cơ bản như sau: Luan van 10 Thứ nhất, hội là tổ chức tập hợp của của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích nên có tính xã hội, tính liên kết rất cao. Bởi ở bất kỳ xã hội nào thì cũng cần đến sức mạnh tập thể, sức mạnh hợp tác với nhau giữa các nhóm người, giữa các cộng đồng đông người. Xã hội càng phát triển, dân chỉ trong xã hội càng mở rộng, đời sống con người ngày cầng được nông cao, thì tính năng động, tích của của con người được thúc đẩy, nhu cầu và nguyện vọng gắn bó với nhau trong một tổ chức hoà hợp tâm lý, hoà hợp lợi ích, cùng nguyện vọng, cùng mục đích, cùng ngành nghề ngày càng xuất hiện nhiều. Những tác động đó khiến cho hội mang đậm tính xã hội.
Thứ hai, tính tự nguyện của hội được thể biểu hiện trong việc lựa chọn tôn chỉ mục đích, lĩnh vực, phạm vi hoạt động theo nguyện vọng, sở thích, sở trường của tập thể nhân dân. Tính thể hiện được biểu hiện trong việc các thể nhân và pháp nhân tự giác thực được hưởng các quyền hạn và thực hiện các nghĩa vụ của hội, nhiều khi không đòi hỏi một điều kiện nào khi thực hiện. Hơn nữa, còn được thể hiện trong việc tổ chức, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật đã quy định mà không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Thứ ba, việc cùng chung nghề nghiệp, cộng đồng, giới, nhân đạo, tự thiện,… là cơ sở để thành tổ chức hội.
Trình độ hoạt động của các hội càng cao, càng sâu thì việc thành lập các hội theo chuyên ngành, lĩnh vực, chuyên sở thích càng nhiều và càng phong phú. Thứ tư, hội có phạm vi hoạt động và quan hệ không bó hẹp trong nước mà đang dần mở rộng ra phạm vi quốc tế không còn đơn thuần chỉ ở mục tiêu dân tộc, phạm vi dân tộc và có không phân biệt chế độ chính trị. Nhiều tổ chức hội còn ra nhập các tổ chức phi chính phủ quốc tế tương ứng hoặc nhận được tài trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Thứ năm, hội được thành lập không phải nhằm mục tiêu để chia lợi nhuận cho các thành viên mà sử dụng phục vụ việc tổ chức, hoạt động theo Luan van 11 tôn chỉ, mục đích mà hội hướng tới cho kinh tế - xã hội.
Do vậy, đề tồn tại hội vẫn có hoạt động dịch vụ theo pháp luật để có lợi nhuận duy trì cho việc phát triển cho tổ chức theo tôn chỉ mục đích của hội mà không phải đem chia cho hội viên. b) Vai trò Vai trò của một số tổ chức xã hội, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là tác dụng của tổ chức đó đối với tiến trình phát triển xã hội. Theo cách hiểu thông thường thì vai trò chỉ được thừa nhận thông qua tác dụng thực tế của sự vật, của tổ chức. Vai trò của các hội quần chúng do vị trí, tính chất, chức năng của bản thân nó quy định.
Để hiểu hết vai trò của tổ chức quần chúng trong xã hội, nhất là trong hoàn cảnh đất nước ta đang thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta xem vai trò đó qua hai mặt tác dụng: Thứ nhất, góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt được mục tiêu này, Đảng và Nhà nước phải huy động mọi tiềm năng và sức mạnh của mọi lực lượng, của mọi thành phần kinh tế, xã hội. Vì lẽ đó, hoạt động của các hội có vai trò quan trọng, nó mở ra khả năng huy động tối đa sức mạnh đó. Cùng với các chính sách của Đảng và Nhà nước, các tổ chức quần chúng thu hút các thành viên vào công cuộc xây dựng phát triển đất nước không cần những điều kiện, những đòi hỏi quá cao, mà lại được quần chúng tự nguyện hưởng ứng.
Sự phát triển của các tổ chức bộ máy phù hợp với đặc điểm kinh tế thị trường, kinh tế nhiều thành phần. Nó là nguồn thông tin xã hội đầy đủ, đa dạng phản ánh tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của tất cả quần chúng đối với Đảng và Nhà nước. Hoạt động của các tổ chức này rõ ràng góp phần làm cho mỗi cá nhân gắn chặt với xã hội, hòa vào xã hội. Luan van 12 Nhờ vậy, con người sẽ năng động hơn, tích cực hơn trong đời sống riêng của mình và nhịp sống chung của xã hội.
Phát huy chức năng của mình, sử dụng có hiệu quả mọi thế mạnh, các tổ chức quần chúng thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước. Chắc chắn trong thời gian tới hoạt động của các tổ chức hội sẽ có hiệu quả cao hơn, góp phần ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vững định hướng phát triển, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa nước ta tiến lên theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tạo ra nhiều đổi mới các hình thức liên hệ xã hội, các tổ chức xã hội quần chúng. Sự phát triển mạnh mẽ các hội là dấu hiệu tích cực của một xã hội dân chủ.
Nhìn từ góc độ xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, sự phát triển của các loại hình hội quần chúng là một xu thế khách quan của phát triển dân chủ. Trong điều kiện và hoàn cảnh như vậy, vai trò của tổ chức quần chúng đối với sự phát triển xã hội càng được đề cao và ngày càng phát triển. Sự chuyển hóa đó là, các tổ chức quần chúng từ thụ động, hình thức chuyển sang chủ động, tích cực, sáng tạo, làm cho nó thực sự là hội của quần chúng, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. Sự chuyển hóa đó còn thể hiện ở chỗ các hội đang rời bỏ mô hình tổ chức và hoạt động quan liêu, hành chính bao cấp sang mô hình tổ chức dân chủ, tự nguyện tự giác và hoạt động theo phương thức tự quản, tự lo liệu và tự trang trải, tự chịu trách nhiệm, tạo ra bầu không khí tích cực chủ động và sáng tạo trong hoạt động của các hội viên.
Thứ hai, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước.