Chương 1: Những vấn đề lý luận, thực hiện pháp luật về chứng thực Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về chứng thực trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về chứng thực trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thời gian tới 8 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về chứng thực 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về chứng thực 1. Khái niệm pháp luật về chứng thực Dưới góc độ về ngôn ngữ, theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin năm 1998, chứng thực là “Xác nhận là đúng sự thật: chứng thực lời khai; chứng thực những điều trong báo cáo là chính xác”.
Dưới góc độ pháp lý, chứng thực được hiểu là việc của cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính chính xác và hợp hợp pháp của các giấy tờ, chữ ký, văn bản của cá nhân, thông tin cá nhân để bảo vệ quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong các quan hệ dân sự, hành chính, kinh tế. Tuy nhiên, Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra một khái niệm rõ ràng, bao quát được đúng bản chất của hoạt động chứng thực, mà chủ yếu đưa ra khái niệm chứng thực của một việc cụ thể nào đó. Chẳng hạn, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 quy định, “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” [2] Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không có khái niệm chung về “chứng thực” mà chỉ đưa ra khái niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký: “Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ 9 Luan van vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính”; “Chứng thực chữ ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực”[3]. Tiếp đó, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP bổ sung thêm quy định mới về khái niệm “chứng thực hợp đồng, giao dịch” [4].
Từ cách hiểu về từng hoạt động chứng thực nêu trên, có thể khái quát, chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính, thương mại, tố tụng dân sự. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong luật này ban hành và được Nhà nước đảm bảo thực hiện [22] Tác giả luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật tức là pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực.