Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE THỦ TỤC GIẢI QUYẾT SƠ THÂM VỤ VIỆC LY HON CÓ YEU TO NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm về thủ tục giải quyết sơ thẩm vu việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 1.Khái niệm vụ việc ly hôn có yéu t6 nước ngoài 1. Khải niệm vụ việc ly hôn Cách gọi “vụ việc” trong quá trình t6 tụng là từ ghép của “vu án” va “việc”, BLTTDS 2015 không có khái niệm chính thức về hai vẫn đề này nhưng đã có quy định: các tranh chấp tai các Điều 26, 28, 30, 32 và các yêu cầu quy định tại các Điều 27, 29, 31, 33 thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, có thê kết luận được đặc tính của “vụ án” là có xảy ra tranh chấp còn “việc” không có tranh chấp, chỉ là các yêu cầu dé Tòa án công nhận như “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản”, “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”.
Ly hôn thực chất là mặt trái của quan hệ hôn nhân cũng là mặt không thê thiếu khi quan hệ hôn nhân đó thực sự tan vỡ; ly hôn chỉ là giải pháp sau cùng khi không còn khả năng hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng - mục đích hôn nhân không đạt được. Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người, việc Nhà nước thừa nhận chế định ly hôn trong pháp luật là thé hiện sự đảm bảo cũng như tôn trọng quyền tự do định đoạt của vợ chồng, giúp họ giải quyết những bế tắc, xung đột trong đời sống hôn nhân. Nhà nước kiểm soát ly hôn bằng pháp luật, mặc dù Nhà nước thừa nhận ly hôn là quyền dân sự gắn liền với nhân thân vợ chồng song cũng cần phải hiểu rõ về bản chất rằng đây không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước sẽ thực hiện quyền kiểm soát đối với hôn nhân nhăm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực mà ly hôn dé lại.
Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chồng và phải phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về căn cứ ly hôn, trường hợp ly hôn, về trình tự thủ tục ly hôn, về việc giải quyết hậu quả ly hôn. Do đó, nếu vợ chồng muốn ly hôn phải tuân thủ các điều kiện, căn cứ ly hôn và các trình tự thủ tục ly hôn theo luật định. Mọi trường hợp vợ chồng xin ly hôn chỉ khi xét thấy có căn cứ ly hôn theo luật định là quan hệ vợ chồng đã đến mức “tình trang tram trọng, đời sống chung không thê kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” thì Tòa án mới giải quyết cho ly hôn.
Lê-nin đã khăng định: “Ly hôn không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình, mà ngược lại, nó củng cô những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thé có và vững chắc trong một xã hội văn minh”!. Ly hôn còn hướng đến bảo vệ các quyền lợi của phụ nữ và trẻ em tạo sự công bang cho xã hội. Vì phụ nữ và trẻ em là những đối tượng dễ bị tôn thương nhất khi ly hôn xảy ra. Điều này được chứng minh băng việc luật quy định hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng trong một số trường hợp nhất định như Điều 51 khoản 3 Luật HN&GD quy định: “trong trường hợp vợ có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu câu xin ly hôn”.
Quy định ly hôn đã tạo nền tảng vững chắc cho việc giải quyết các hậu quả pháp lý phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt; đó là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài san, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ, chồng và quan hệ cấp dưỡng nuôi con. Về mặt pháp lý: Ly hôn là một sự kiện pháp lý chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng trên cơ sở bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án, đồng thời đây là quyền nhân thân của vợ, chồng. Chỉ có vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân đó mới có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn (trừ một số trường hợp ngoại lệ thì cha, mẹ, người thân thích có quyền làm đơn xin ly hôn)”. Vợ chồng khi yêu cầu ly hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật và Tòa án là cơ quan thực hiện việc quản lý nhằm đảm bảo việc ly hôn theo đúng trình tự, thủ tục để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thé, cũng như nhằm mục đích bảo vệ Nhà nước và xã hội.
Theo Điều 3 Luật HN&GD 2014: “Ly hôn là việc cham dứt quan hệ vợ chong theo ban an, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Vụ việc ly hôn bao gồm cả vụ án ly hôn và việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Đối với vụ án ly hôn, khi người khởi kiện nộp đơn tại tòa án giải quyết ly hôn phải đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật (các điều kiện thụ lý) thì Tòa án sẽ nhận đơn và thực hiện các thủ tục tiếp theo, như vậy từ thời điểm đó vụ án ly hôn được xác lập. Tương tự, đối với việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn: vợ ' Lê nin, 1980, “Về quyên dân tộc tự quyết”, Toàn tập, tập 25, Nxb.
Tiến bộ, Matxicova,tr335. ?Xem thêm Khoản 2, Điều 51, Luật HN&GD 2014. chồng có đơn yêu cầu công nhận, cùng ký tên và gửi đến tòa án để yêu cầu tòa án công nhận. Như vậy, có thé đưa ra khái niệm rang: Vu việc ly hôn là sự kiện phát sinh tại tòa án do vợ hoặc chong có đơn yêu cau tòa án giải quyết ly hôn và bảo vệ các quyên và lợi ích hợp pháp của mình hoặc yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Khái niệm vụ việc ly hôn có yếu to nước ngoài: Khoản 2 Điều 464 BLTTDS 2015 quy định: Vu việc dan sự có yếu tổ nước ngoài là vụ việc dan sự thuộc một trong các trưòng hop sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia déu là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lap, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dirt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tô chức Việt Nam nhưng doi tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. ” Tại khoản 25 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 cũng quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà it nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cu ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, thực hiện, cham dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. ” Từ hai căn cứ pháp lý nêu trên, có thé đưa ra khái niệm như sau: “LHYTNN là sự kiện liên quan đến cham dứt quan hệ hôn nhân tại tòa án giữa một bên là công dan Việt Nam và một bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa các bên là người nước ngoài nhưng sinh sống tại Việt Nam; giữa công dan Việt Nam với nhau nhưng căn cứ dé xác lập, thay đổi, thực hiện, cham dit quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài ”. Như vậy, một vụ việc ly hôn khi có một trong các yếu tố sau thì được coi là LHYTNN: - Vụ việc có ít nhất một bên tham gia là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Việc xác lập, thay đôi, thực hiện, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. - Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài. Khái niệm, đặc điểm thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu 16 nước ngoài 1. Khái niệm thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu t6 nước ngoài Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Tại Điều 6 Luật t6 chức Tòa án nhân dân cũng đã quy định chế độ xét xử ở nước ta qua hai cấp: xét xử sơ thâm và xét xử phúc thấm. Theo Dai từ điển tiếng Việt, sơ thâm là “Xét xử lần dau một vụ việc ở Tòa án cấp thấp ”' và là giai đoạn đầu tiên giải quyết vụ việc ở Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thâm nào cũng phải thực hiện việc xét xử mà VIỆC giải quyết một vụ việc tại tòa án trải qua các giai đoạn, trình tự tô tụng nhất định quy định trong Bộ luật tô tụng dân sự. Theo trình tự giải quyết sơ thâm, sau khi Tòa án tiễn hành xác minh, thu thập chứng cứ day đủ, qua hòa giải các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ mở phiên tòa để xét xử công khai vụ án.
Cơ sở của thủ tục sơ thấm vụ việc ly hôn chính là don khởi kiện vụ án ly hôn hoặc đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Tuy nhiên, đơn đó chỉ được thụ lý sau khi đảm bảo hình thức đơn, nội dung đơn và làm thủ tục nộp tiền tạm ứng an phí, lệ phí. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc ly hôn sẽ phát sinh ké từ thời điểm Toa án thụ lý vụ án, việc dân sự (bao gồm vào sô thụ lý và ra thông báo thụ lý) và giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thầm bat đầu. Dé đảm bảo cho việc giải quyết vu VIỆC co căn cứ va đảm bao khách quan, chính xác thì các đương su trong vụ án có nghĩa vu cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình.