Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VẺ THỪA PHÁT LẠI 1. Khái niệm Thừa phát lại Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, TPL được hình thành từ thời trung cô tại các nước ở châu Âu: Anh, Pháp, Bi, Đức, Hà Lan và các nước châu Mỹ như Canada, My’. Ngày nay, trên thé giới có nhiều cách hiểu khác nhau về TPL.
Tại Hoa Kỳ, Thừa phát lại (Bailiffs) được hiểu đó là cán bộ thực thi pháp luật mà nhiệm vụ được giới hạn trong phạm vi Tòa án. Họ chịu trách nhiệm chính cho việc duy trì an ninh trật tự trong phòng xử án và hỗ trợ thâm phán trong việc tiễn hành có trật tự của phiên toa’. Tại Anh, Thừa phát lại là người thực hiện các hoạt động pháp ly hỗ trợ cho Cảnh sat, Tham phan tại Tòa án và các cơ quan hành chính địa phương. Nhiệm vụ của TPL rất đa dạng và khác nhau trong các lĩnh vực như: Xét xử, cưỡng chế thi hành các bản án, thực hiện các nhiệm vụ tư pháp hoặc tống đạt các yêu cầu của các công ty thu hồi nợ, đánh thuế và được hiểu như là các công ty tư nhân thực hiện nhiệm vụ.
Theo đánh giá nói chung, so với các nước trên thế giới, chế định Thừa phat lại (Huissier) ở Pháp được xây dựng hoàn thiện, hiệu quả hơn cả. Điều 1 Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945 quy định thâm quyên theo nội dung của TPL và tổ chức nghề TPL có quy định như sau: “Thira phát lại là người 'Hà Thị Lan Anh (2012), “7hừa phát lại — vai trò pháp lý và nhu cau đào tạo phát triển”, Nghé luật. ? Nguyễn Anh Thu (2014), Thừa phát lại — Một số vấn dé lý luận và thực tiên, Luận văn Thạc sĩ, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr.5, trích tài liệu: “www.com (Bailiffs are lawenforcement officers who play an important role in the courtroom. Bailiffs areprimarilyresponsible for maintaining order and security in the courtroom and assisting the judge in the orderly conduct of trail)”.
SỞ hữu một tước vị, có độc quyền trong việc tong dat van bản và văn bản tố tụng, tiễn hành các thủ tục thông báo được pháp luật quy định trong trường hợp không quy định rõ phương thức thông báo, và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các văn ban có hiệu lực thi hành khác. Nhắc tới danh từ “7a phát lại” han rất xa lạ với đa số người dân Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà khoa học và tài liệu lịch sử hiện có thì TPL xuất hiện ở Việt Nam từ thời phong kiến. Một số học giả nghiên cứu về lich sử nhà nước — pháp luật Việt Nam cho rằng ngay từ giai đoạn đầu khi Nhà nước phong kiến hình thành, việc xét xử chủ yếu vẫn do các quan lại phụ trách và người giúp việc của quan lại phải thực hiện các công việc tương tự với công việc chức danh Thừa phát lại hiện này được làm, chắng hạn như: Truyền đạt khâu lệnh, công văn, giấy tờ, chuẩn bị phiên tòa, thông báo việc thi hành án.
Có tài liệu cho rằng, Thừa phát lại xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 nhượng 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, khi người Pháp đặt chế độ cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ và coi 6 tỉnh Nam kỳ như một Hạt của Pháp. Chính vì vậy mà có thể nói chế định TPL mới ở giai đoạn manh nha, bước đầu hình thành ở Việt Nam. Thuật ngữ Thừa phát lại chỉ được chính thức ghi nhận trong các văn bản đó là: Bộ Dân sự tố tụng Nam Việt năm 1910; Bộ Dân luật Bắc ky năm 1917 và Bộ Dân sự tố tụng Bac Ky năm 1931; Bộ Dân luật Trung ky năm 1942; Nghị định số 111 ngày 08/3/1949 của chính quyền Bảo Đại; Bộ luật Dân sự, Thương sự tố tụng năm 1972 của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong các văn ban trên và ở các vùng khác nhau, Thừa phát lại được gọi với những tên khác > Nguyễn Anh Thư (2014), Thừa phát lại - Một số vấn dé lý luận và thực tiễn, Luan văn Thạc si, Trường Dai học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.5, trích trong tài liệu: “www.vn (Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp”.
“Vii Hoài Nam (2013), 76 chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 10 nhau như: Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), Thừa phát lại (miền Nam) nhưng đều thé hiện chức năng của chức danh “Huissier” trong Bộ Dân luật Pháp năm 1804 và Bộ Dân sự tố tụng Pháp năm 1807 mà dich sang tiếng Việt là “Chưởng tòa” hay là nhân viên chấp hành (ở Tòa án); (cũ) mõ tòa'. Theo đó, hoạt động của Thừa phát lại bao gồm: 1) Trước khi xét xử Thừa phát lại được lap các vi bằng, biên bản, tống đạt các thư mời, giấy triệu tập. 2) Trong khi xét xử Thừa phát lại có nhiệm vụ báo tin tòa đăng đường, tòa bế mạc, truyền đạt việc gọi tên, các đương sự, người làm chứng, chuyên chứng cứ; giữ gìn trật tự phiên tòa.
3) Sau khi xét xử Thừa phát lại tống đạt các giấy tờ đốc thúc thi hành án; lập các chứng thư thi hành các nội dung bản án đã tuyên về trục xuất, phát mại tài sản, trả nợ,. Thừa phát lại được bô nhiệm và là công lại, nhiệm lại, nhưng không phải công chức hưởng lương nhà nước. Thừa phát lại được tô chức và hoạt động theo quản hạt của Tòa án. Nhiệm vụ của Thừa phát lại rất rộng, không chỉ thi hành các bản án có nghĩa là các công việc sau xét xử mà còn thực hiện các công việc trước và trong xét xử”.
Đó là xuất xứ của danh từ Thừa phát lại, tuy nhiên dé nói tới khái niệm Thừa phát lại thì có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất, Thừa phát lại - Những nhân viên công lại có nhiệm vụ tống đạt các văn bản tố tụng tư pháp và các van bản khác, cưỡng chế thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án, các văn bản của công chứng viên và làm các công việc khác tại các tòa án”. Tuy nhiên với cách định nghĩa như °Lé Khả Kế (chủ biên, 1997), Tir điển Pháp - Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. “Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Tờ điển luật học, NXB Tư điền Bách khoa và NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr. 7 Nhà pháp luật Việt Pháp (2009), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Viét, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.
lãi quan điểm này thi dé nhằm lẫn chức năng công chứng viên và chức năng của Thừa phát lại, định nghĩa chưa rõ ràng. Quan điểm thứ hai, Thừa phát lại là viên chức chuyên tổng đạt giấy tờ và thi hành phán quyết của Tòa án hay thu một sản vật. Thừa — giúp, phụ giúp; theo, tuân theo lệnh của cấp trên. Phát - gửi đi, giao cho ai vật gì.
Lại - người làm việc cấp dưới. Thừa phát lại là những người được luật pháp giao cho các việc: truyền phiếu, các việc biên chép, chuyên đưa các giấy tờ thuộc về Thâm phán hoặc ngoại Tham phán, các việc thi hành án, các công văn và các công việc nội bộ trong các tòa án. Với cách hiểu như trên thê hiện được hoạt động của Thừa phát lại mang tính quyền lực nhà nước, Thừa phát lại không hưởng lương ngân sách nhà nước. Theo định nghĩa trên thì Thừa phát lại đang là một cơ quan được luật pháp giao việc và Thừa phát lại có thê từ chối không làm được không? Nếu không được từ chối mà buộc phải làm thì Thừa phát lại không khác gì một công chức, viên chức nhà nước.
Quan điểm thứ ba, được thê hiện trong quy định tại khoản 1 Điều 2 Văn bản hợp nhất số 7821/VBHN-BTP: “Thira phát lại là người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bồ nhiệm và trao quyền dé làm các công việc theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Quan điểm mới nhất này nhìn nhận Thừa phát lại dưới góc độ chủ thê và đã phần nào làm rõ được câu hỏi: “Thừa phát lại là ai? Thừa phat lại làm những công việc gì? ”. Tuy nhiên, khác với các quan điểm trên, nếu nhìn nhận Thừa phát lại dưới góc độ toàn diện về chủ thé và hoạt động của chức danh này thì có thê đưa ra một khái niệm tổng quát về Thừa phát lại như sau: Thira phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bồ nhiệm và trao quyền đề thực hiện các công việc về tong dat các văn bản của Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân su; lập vi bang; xác minh diéu kiện thi hành án và thi hành án dân sự theo 12 trình tự, thủ tục do pháp luật quy định về tô tụng, thi hành án và pháp luật có liên quan. Định nghĩa trên về TPL cho thấy chức danh này vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt với một số chức danh tư pháp khác.
Cụ thể: - Thừa phát lại và Chấp hành viên Chấp hành viên là người được Nhà nước tuyên dụng, bố nhiệm và giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định mà theo quy định của Luật thi hành án dân sự phải được đưa ra thi hành. Chấp hành viên là công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và phải thực hiện công việc theo quy định về chế độ công chức, công vụ. Thừa phát lại mặc dù cũng do Nhà nước b6 nhiệm và thực hiện một SỐ công việc như Chấp hành viên như: Trực tiếp tô chức thi hành bản án, xác minh điều kiện thi hành án, tuy nhiên, Thừa phát lại không phải là công chức nha nước, chức danh TPL làm việc được hưởng thù lao, phí tổn theo biểu giá Nhà nước quy định và hợp đồng ký kết với khách hàng. - Thừa phát lại và Kiểm sát viên Mỗi quan hệ giữa Thừa phát lại và Kiểm sát viên là mối quan hệ kiêm tra - giám sát.
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại có thâm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tống đạt các văn bản về thi hành và trong hoạt động thi hành án của TPL theo Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân và pháp luật về thi hành án dân sự. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tống đạt các văn bản của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân và pháp luật về tố tụng.