Kỷ yếu hội thảo khoa học: Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam

Kỷ yếu hội thảo khoa học phân tích các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam, cung cấp góc nhìn chuyên sâu và giải pháp hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh
94
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. DANH MỤC CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC

2. QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN NĂNG CỦA CHỦ SỞ HỮU

2.1. Tài sản trong quan hệ pháp luật về quyền sở hữu

2.2. Phân loại tài sản theo Bộ luật Dân sự

2.3. Phân biệt động sản và bất động sản

2.4. Giá trị pháp lý của việc phân biệt động sản - bất động sản

2.5. Quyền sở hữu

2.5.1. Khái niệm và vai trò của quyền sở hữu

2.5.2. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự

2.5.3. Quyền chiếm hữu

2.5.3.1. Khái niệm quyền chiếm hữu
2.5.3.2. Các loại chiếm hữu

Tóm tắt

I. Khái niệm và phân loại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam

Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận tài sản theo nghĩa rộng, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Điều 163 Bộ luật Dân sự (BLDS) xác định rõ các loại tài sản này. Tài sản được phân loại thành động sảnbất động sản, phù hợp với thông lệ quốc tế. Bất động sản bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất, và các tài sản khác do pháp luật quy định. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Việc phân loại này nhằm áp dụng các quy chế pháp lý khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sở hữubảo vệ quyền sở hữu.

1.1. Phân biệt động sản và bất động sản

Theo Điều 174 BLDS, bất động sản được xác định dựa trên tính chất vật lý không di dời được, như đất đai, nhà cửa. Động sản là những tài sản còn lại. Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền sở hữubảo hộ quyền sở hữu, đặc biệt trong các tranh chấp liên quan đến tài sản.

1.2. Giá trị pháp lý của việc phân loại tài sản

Việc phân loại tài sản giúp xác định quyền sở hữuquyền tài sản một cách rõ ràng. Điều này đặc biệt quan trọng trong các giao dịch dân sự, như mua bán, cho thuê, hoặc thừa kế. Pháp luật Việt Nam cũng quy định cụ thể về việc đăng ký quyền sở hữu đối với bất động sản, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

II. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam

Quyền sở hữu được xác lập dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể, như lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp, chuyển giao quyền sở hữu, thu hoa lợi, lợi tức, và thừa kế. Điều 170 BLDS liệt kê các căn cứ này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật dân sự trong việc xác lập và bảo vệ quyền sở hữu.

2.1. Căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua lao động

Công dân có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo ra thông qua lao động của mình. Điều này thể hiện nguyên tắc công bằng trong pháp luật dân sự, đảm bảo rằng người lao động được hưởng thành quả từ công sức của mình.

2.2. Chuyển giao quyền sở hữu thông qua giao dịch dân sự

Việc chuyển giao quyền sở hữu thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, hoặc trao đổi là một trong những căn cứ phổ biến nhất. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia.

III. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam

Pháp luật dân sự Việt Nam cung cấp nhiều biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, bao gồm kiện đòi lại tài sản, kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, và các biện pháp khác. Điều 256 và 257 BLDS quy định cụ thể về quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

3.1. Kiện đòi lại tài sản

Chủ sở hữu có quyền khởi kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Điều này đảm bảo rằng quyền sở hữu được tôn trọng và bảo vệ một cách hiệu quả.

3.2. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo Điều 260 BLDS, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại khi tài sản bị xâm phạm. Điều này nhằm đảm bảo công bằng và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

21/02/2025
Kỷ yếu hội thảo khoa học các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

HỘI THẢO KHOA HỌC CAC BIEN PHAP BAO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM THU VIỆN | TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, | PHÒNG BOC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOI Khoa Luật Dân sự Bộ môn Luật Dân sự HỘI THẢO KHOA HỌC “CAC BIEN PHAP BẢO VỆ QUYEN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM” Hà Nội, ngày.11 tháng 12 nắm 2007 DANH MỤC CAC BAO CAO KHOA HỌC 1. Trần Thi Huệ. Quyền sở hữu va quyền năng của chủ sở hữu. Vương Thanh Thúy.

Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hai.’ 3u)S Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự 4) "Việt Nam và một số nước trên thé giới. Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải dang ký @Ð đ3 co | quyền sở hữu từ người chiếm.

hitu-ngay-tink. Nguyễn Nhie Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải dang ký *⁄ quyền. sở hữu hoặc bat động sản từ người chiếm hữu ngay tình.

Nguyễn Van Cường, Một số van đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do G3 g — người khác chiếm hữu không có cặn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. Vũ Thị Hong Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở Cà) 3 hữu hiện đòi lại tai sản. Nguyễn Thị Tuyết.

Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự - những | ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. Vũ Thị Hai Yến. Tự bao vệ quyền sở hữu — Nhung ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. Trân Kim Chi.

Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. | vệ quyền sở hữu đồThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tung dân sự trong bảo tài sản tại Tòa án nhân dân.

HÔI THẢO: CÁC BIEN PHAP BẢO VỆ QUYEN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DAN SƯ VIỆT NAM QUYEN SỞ HỮU VÀ QUYEN NANG CUA CHU180 HUU TS. Tran Thi Hué : Đại học Luật Hà Nội * Tài sản trong quan hệ pháp luật vê quyên sở hữu. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn dé quan trọng nhất của pháp luật dân sự. Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu và cũng vì quan hệ sở - hữu, quan hệ sở hữu là tiền dé, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác.

Tài sản và quyền sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng trong BLDS., nó vừa là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sẽ hữu.Yêu cầu cơ bản nhất đặt ra đối với tài sản trong BLDS là tài sản đó phải giao dịch được và được phép đưa vào giao dịch dân sự, Nó là đối tượng phổ biến được điều chỉnh bởi các quy định của cả hệ thống pháp luật; Vì vậy, việc qui định về tài sản và phân loại tài sản trong BLDS là cần thiết để phân biệt tài sản trong quan hệ dân sự với tài sản | trong quan niệm thông thường. | Tài sản với tính cách là khách thể của quyền sở hữu đã được qui định tại Điều 163 BLDS năm 2005. Nhưng những qui định này chỉ mang tính chất liệt kê, xác định những loại vật thể và quyền tài sản được coi là tài sản. “Tài sản” là thuật ngữ có nguồn gốc Hán Việt.

Theo nguồn gốc này, thì tài sản là những của cải vật chất tồn tại khách quan, nằm trong sự chiếm hữu và chỉ phối của con người, được con người khai thác và mang lại lợi ích vật chất hoặc lợi ích tỉnh thần Thuật ngữ tai sản có thé được hiểu trên hai phương diện: Theo quan niệm thông thường: Tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như giường, tủ, bản ghế, xe mô tô, tờ tiền.hiểu theo nghĩa thông thường rộng hơn thì tài san là: “Của cải vật chất hoặc tinh than có giá trị đối với chủ sở hữu”. Với nghĩa này tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định trong một xã hội nhất. Do đó quan niệm về tài sản cũng thay đổi theo xã hội đối với của cải trong xã hội đó. HÔI THẢO: CAC BIEN PHAP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG PHAP LUẬT DAN SỰ VIET NAM Theo phương diện pháp lý: Tài sản là của cải được con người sử dụng dé mang lại lợi ích.

Của cải là một khái niệm luôn luôn có sự biến đổi về giá trị vật chất và được pháp luật qui định về chế độ pháp lý đối với nó. Luật Dân sự Việt Nam thừa nhận tài theo nghĩa rộng, theo đó, tài sản bao gồm các vật va quyén tài sản trên các vật đó (vật quyền). Mặc dù không đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng Điều 163 Bộ luật Dân sự xác định tài sản bao gom vật, tiền, các giấy tờ có giá và các quyền tài sản. BLDS năm 2005 phân loại tài sản thành động sản - bất động sản, tài sản hữu hình - tài sản vô hình, đó là những phân loại mang tính truyền thống và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bài viết này tập trung đề cập đến cách phân loại tài sản ở cách phân loại thứ hai - Bắt động sản và động sản. Dé phân biệt động sản - bat động sản Bộ luật Dân sự đã dùng phương pháp loại trừ để xác định một tài sản là động sản hay bat động sản. Khoản | Điều 174 BLDS liệt kê các tài sản được coi là bất động sản, 1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: » a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tai sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Động sản là những tài sản không phải là bat động sản Việc phân biệt động sản và bất động sản chủ yếu dựa trên tính chất vật lý không di doi được về ‘mat cơ học và giá trị kinh tế.Trên thực thì những tài sản không di, dời được thường là những tài sản có giá trị lớn, như ruộng vườn, nhà cửa, ao chuôm. Việc phân biệt động sản và bất động sản nhằm mục đích qui định hai quy chế pháp,lý khác nhau cho hai loại tài sản này. Hai qui chế pháp lý này ảnh hưởng trực tiếp đến những qui định của BLDS khi qui định về quyền của chủ sở hữu thực quyền đòi lại động sản, bất động sản từ người chiếm hữư không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo qui định tại Điều 256,257của BLDS Theo qui định tại Điều 174 BLDS, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhận các loại bât động sản sau đây: `" =— —>=z>>=yc.—ễễễễẮễễẮễẮễẮẮèẮèẮễẮTẮèừ—TTT-TTSTSTB-BR-BRBRBSỶmR HÔI THẢO: CÁC BIEN PHÁP BAO VE QUYEN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DAN SỰ VIỆT NAM - Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của nó, bao gồm : Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất. - Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: Đó là các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản.

- Ví dụ như hệ thống điện được lắp đặt trong tường nhà, hệ thống đường nước trong nhà, bể cá, tủ bày các vật dụng gắn vào hốc tường một cách kiên cố. - Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động sản ké trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định những tài sản khác là bất động sản. Điểm d, khoản 1 Điều 174 BLDS đã quy định “.bất động sản có thé còn là các tai sản khác do pháp luật quy định”. Ví dụ quyền sử dụng đất được xác định là bất động sản, đây chính là việc thừa nhận khái niệm quyền có tinh chất bat động san.

% Giá trị pháp lý của việc phân biệt động san- bat động sản Việc phân biệt động sản - bất động sản có giá tri trong việc qui định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Theo Điều 247 BLDS, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó kế từ thời điểm chiếm hữu, trừ trường hợp tài sản chiếm hữu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước. - Liên quan đến hệ thống đăng ký tài sản, trong pháp luật Dân sự Việt Nam, đối với các tài sản là bất động sản, về nguyên tắc, để được công nhận là chủ sở hữu, người có bất động sản phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu (Điều 167 BLDS). Việc đăng ký quyên sở hữu chính là yếu tố minh chứng cho việc xác định ai là chủ sở hữu của bất động sản đó.

Đối với động sản thì chỉ có một số loại nhất định phải đăng ký quyền sở hữu. Ví dụ như ô tô, xe máy. - Việc phân biệt này có giá trị quan trọng trong việc tuân thủ hình thức khi các chủ thể xác lập các giao dịch dân sự có đối tượng là bất động sản, thông thường phải xác lập thông qua giao dịch dân sự bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan Nhà Nước thâm quyền, giao dịch loại nay chỉ có hiệu lực ké từ thời điểm được công chứng hoặc chứng nhận hoặc thời điểm đăng ký. | độ tố tụng, việc xác định một tài sản là động sản hay bất động - Dưới góc sản có giá trị xác định thâm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết 3 HÔI THẢO: CAC BIEN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRƠNG PHÁP LUẬT DAN SU VIET NAM tranh chấp.

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tổ tụng Dân sự, các tranh chấp về bất động sản thuộc thâm quyén giải quyết của Toà án nơi có bất động sản. - Một giá trị nữa cần kế đến của việc phân biệt này là việc xác định luật áp dụng trong trường hợp xác định quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài; các giao dịch có yếu t6 nước ngoài, Chang hạn, hợp đồng liên quan đến bat động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Điều 769 khoản 2 BLDS); Quyền sở hữu đối với động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam | Kỷ yếu hội thảo khoa học là một tài liệu chuyên sâu phân tích các cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ quyền sở hữu tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ làm rõ các quy định hiện hành mà còn đưa ra những giải pháp thực tiễn để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức áp dụng pháp luật trong các tình huống cụ thể, đồng thời nắm bắt được các nguyên tắc cơ bản để bảo vệ quyền lợi của mình.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề pháp lý sâu hơn, đặc biệt là việc xét lại bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật, hãy khám phá thêm Kỷ yếu hội thảo khoa học xét lại bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tài liệu này sẽ cung cấp góc nhìn toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình xét lại các quyết định pháp lý, giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực này.