phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, kết cấu của khóa luận bao gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Tổng quan về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng và yếu tố lỗi Chƣơng 2: Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng và yếu tố lỗi theo pháp luật Việt Nam Chƣơng 3: Một số vƣớng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ YẾU TỐ LỖI 1. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Lịch sử trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Cuộc sống con người là tổng thể các mối quan hệ Cuộc sống giữa những con ngƣời trong xã hội đƣợc nhìn nhận nhƣ một sự tổng hòa giữa các mối quan hệ.
Từ góc nhìn chủ động, con ngƣời luôn có xu hƣớng kết nối với nhau để đạt đƣợc những điều lớn lao hơn. Ở tầm vĩ mô, nhiều ý kiến cho rằng, nhà nƣớc kiểu châu Á là một sản phẩm của công cuộc kết liên những con ngƣời trong một khu vực lại nhằm chiến đấu với các hiện tƣợng tự nhiên nhƣ: làm đê điều chống lũ lụt, cùng đắp đất dẫn nƣớc cho nền công nghiệp lúa nƣớc,….1 Từ những tháng ngày xa xƣa, nhà triết học Aristotle đã cho rằng, con ngƣời, từ bản chất là một động vật chính trị, bởi lẽ “là cá nhân khi đứng biệt lập, không thể tự cung tự cấp; và do đó anh ta phải là một bộ phận trong mối quan hệ với cái tổng thể”2. Ở tầm vi mô, sự phát triển của những hội nhóm, của những giao dịch phần nào chứng minh cho ta thấy nhu cầu kết nối, tƣơng tác giữa những cá thể. Từ góc nhìn thụ động, con ngƣời sinh ra đã có những mối quan hệ nhất định: mối quan hệ với gia đình, mối quan hệ với cộng đồng, xã hội.
Kể từ khi các nhà nƣớc hình thành với tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, thì một ngƣời dù sinh ra hay sinh sống ở bất kỳ đâu trên trái đất, cũng nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế. Sự hình thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Để sự giao hòa giữa cuộc sống của mỗi cá thể đó thực sự mang đến “những lợi ích lớn lao hơn” nhƣ kỳ vọng của các cá thể khi tham gia vào đời sống cộng đồng, thì mỗi cá thể trong cộng đồng đó phải đƣợc bảo vệ một cách toàn vẹn và tốt đẹp nhất. Từ đó, khái niệm “tự do” ra đời. Và để đảm bảo sự tự do của một ngƣời, 1 Nguyễn Minh Tuấn (2007), Tại sao nhà nước Văn Lang là nhà nước siêu làng, tlđd.
2 Aristotle, Chính trị học, sđd, tr. 3 thì sự “tự do” của ngƣời khác phải không đƣợc xâm lấn sự tự do của ngƣời đó. Quyền tự do sải cánh tay của một người kết thúc ở điểm chóp mũi của người khác.3 Thế nhƣng, bởi sự giao hòa sâu sắc giữa cuộc sống của mỗi cá thể nói trên, không thể tránh khỏi sự tự do của ngƣời này chồng lấn lên sự tự do của ngƣời khác, hoặc tồn tại những khoảng mờ giữa tự do của ngƣời này, và tự do của ngƣời kia. Đó có thể là hành động vô ý (một ngƣời muốn xây dựng bể bơi nên dẫn nƣớc vào sân vƣờn, và không may nƣớc tràn vào nhà bên cạnh).
Đó cũng có thể là hành động cố ý (một ngƣời đánh ngƣời khác làm ngƣời đó bị thƣơng nặng). Và khi một ngƣời xâm phạm vào sự tự do của ngƣời khác dẫn đến sự tự do đó bị thiệt hại, thì một nghĩa vụ xuất hiện, theo ngôn ngữ bình dân nhất: một ngƣời gây thiệt hại phải “đền bù”. Trƣớc đây, sự “đền bù” này đƣợc thực hiện nhƣ sau: ngƣời bị thiệt hại, sẽ gây lại thiệt hại cho ngƣời gây thiệt hại. Nếu anh làm hỏng con mắt tôi, tôi sẽ làm hỏng lại con mắt của anh.
Nếu anh làm cháy căn nhà của tôi, thì tôi sẽ lại làm cháy căn nhà của anh.4 Tuy nhiên, ngƣời ta nhanh chóng nhận ra rằng, cách “trả thù” này thật không hợp lý. Xét về kinh tế, xã hội thay vì chịu một thiệt hại, thì nay lại phải gánh chịu gấp đôi; xét về đạo đức, tuy định nghĩa về đạo đức là không rõ ràng, nhƣng dƣờng nhƣ việc chủ động xâm phạm thân thể một ngƣời là không phù hợp với đạo đức. Bản chất cộng đồng của con ngƣời đã làm phát sinh nhu cầu hình thành một loại trách nhiệm khi có thiệt hại xảy ra, nhƣng dƣờng nhƣ trách nhiệm “nhận lại những đau đớn mình đã gây cho ngƣời khác” còn quá nguyên sơ và không hiệu quả. Các nhà lập pháp đã đƣa ra ý tƣởng rằng, tại sao không thay đổi chế định này theo hƣớng ngƣời sai lầm sẽ “sửa chữa” lỗi lầm của mình, hơn là trả thù, trừng phạt họ và đẩy họ ra khỏi xã hội? Bằng cách đƣa cho ngƣời sai lầm một công cụ sửa chữa, khắc phục, họ có thể học cách hòa nhập với cộng đồng.
Ngƣời bị thiệt hại thay vì lại 3 Quote Investigator, từ khóa: Your Liberty To Swing Your Fist Ends Just Where My Nose Begins. Truy cập ngày 19/3/2019 tại: https://quoteinvestigator.com/2011/10/15/liberty-fist-nose/. 4 Ancient Civilizations, Hammurabi's Code: An Eye for an Eye. Truy cập ngày 3/5/2019 tại: http://www.
4 gây những nỗi đau cho ngƣời gây thiệt hại, nay có thể đƣợc nhận lại những công cụ giúp khắc phục thiệt hại trên. Trong luật tƣ, công cụ đó chính là luật trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, nơi ngƣời gây thiệt hại cố gắng sửa chữa lỗi lầm của mình bằng việc đền bù vật chất, hoặc thực hiện một số hành vi nhằm trả cho ngƣời bị thiệt hại những gì họ đáng đƣợc nhận. Pháp luật các quốc gia, tùy theo cách tiếp cận, gọi trách nhiệm này là Delict và quasi-delict (luật La Mã và luật Pháp trƣớc 2015)5, La responsabilité extracontractuelle (luật Pháp từ sau 2015)6, Tort (luật Anh, Hoa Kỳ)7. Trong đó, thuật ngữ “tort” trong tiếng Anh xuất phát từ một thuật ngữ Latin “tortum”, có nghĩa là “sai trái”, “lệch lạc”, “sai đƣờng”, đối lập với thuật ngữ “rectum”, có nghĩa là thẳng, chính xác (từ “rectitude” (tạm dịch: đúng đắn, chính trực, ngay tình) cũng xuất phát từ thuật ngữ này).
Trƣớc khi đƣợc luật hóa thành một thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ tort vẫn đƣợc dùng vô cùng phổ biến trong đời sống hàng ngày mang ý nghĩa đền bù. Các cách tiếp cận trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Để biến ý tƣởng trên thành một chế định pháp luật thực sự, các nhà lập pháp cùng xã hội đã cân nhắc các vấn đề sau: Góc độ kinh tế học Các nhà kinh tế học nhìn chế định bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng với sự cân nhắc: i) thiệt hại của toàn xã hội và ii) thiệt hại của các bên liên quan. Cũng cần lƣu ý rằng, lý thuyết về kinh tế học này đƣợc xây dựng từ những năm 19708, nên lý luận về thiệt hại tài sản chủ yếu dựa vào bản chất không thể tái sử dụng của nguyên liệu, cùng với việc không có năng lƣợng nào là mãi mãi, hoặc không hao mòn khi sử dụng. Bởi vậy, lý thuyết này có thể chƣa thực sự phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, ví dụ nhƣ sự ra đời của các vật liệu tự tái tạo, các vật thể tự hành không cần dùng sức ngƣời, v.
6 Bộ luật Dân sự Pháp. 7 Luật Trách nhiệm Bồi thƣờng thiệt hại (với sản phẩm) Anh quốc. Grady (2019), The Positive Economic Theory of Tort Law, tlđd. 9 Tham khảo: Seppe Terryn, Joost Brancart, Dirk Lefeber, Guy Van Assche và Bram Vanderborght, Công bố khoa học: Self-healing soft pneumatic robots, tạp chí Science Robotics, số 2, ngày 16 tháng 8 năm 2017.
Truy cập ngày 5/5/2019 tại: https://robotics.org/content/2/9/eaan4268. 5 i) Thiệt hại của toàn xã hội Khi một ngƣời gây ra một thiệt hại, thiệt hại đó đã định hình trong không gian và không có cách nào khắc phục đƣợc.10 Ví dụ, một ngƣời vô ý gây hỏa hoạn, làm cháy nhà của hàng xóm, thì dù ngƣời đó có làm bất cứ cách nào, thì cũng không thể khôi phục đƣợc căn nhà đó. Kể cả khi anh ta có xây lại một ngôi nhà khác cho nhà hàng xóm, thì một là những vật liệu, những công sức để xây căn nhà cũ cũng đã mất đi, và hai là, xã hội lại phải bỏ ra thêm một chi phí mới cho nhân công xây dựng căn nhà mới, bỏ ra những vật liệu mới để xây dựng lại căn nhà. Những phí tổn này đƣợc gọi là thiệt hại thực tế.
Ngoài thiệt hại bị gây ra trực tiếp (nhƣ trong ví dụ trên là căn nhà bị mất), xã hội còn bị mất mát thêm những chi phí để đề phòng vụ việc này tiếp tục có thể xảy ra/ gây hại cho xã hội (nhƣ ví dụ trên, ngƣời bị cháy nhà sẽ tiếp tục phải chi thêm thời gian, tiền bạc để điều tra ai là ngƣời gây hỏa hoạn, cộng với chi phí khởi kiện (nếu có), chi phí đề phòng (trang bị thêm các trang thiết bị báo cháy, chữa cháy, phòng vệ thêm căn nhà,…). Những phí tổn này đƣợc gọi là thiệt hại phòng ngừa. ii) Thiệt hại của cá nhân Nhƣ phân tích trên, thiệt hại không thể mất đi, nên để đảm bảo lợi ích cá nhân, thiệt hại đó chỉ có thể chuyển từ ngƣời này sang ngƣời khác. Từ ngƣời không đáng phải chịu thiệt hại, sang ngƣời xứng đáng phải chịu thiệt hại.
Vì vậy, các nhà kinh tế học nhận diện luật trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng nhƣ một cứu cánh cho những phí tổn này. Việc trả thù đơn thuần chỉ khiến xã hội phải chịu gấp đôi phí tổn cho những sai lầm của một cá nhân. Bởi vậy, cần đƣa ra một cách “trả thù” văn minh hơn: đối với thiệt hại thực tế, ngƣời gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm thông qua việc nhận lại những thiệt hại mình đã gây cho ngƣời khác. Tuy nhiên, việc “nhận lại” này không phải là nhận lại chính xác những hành động, tổn thất mà mình gây ra, mà là “nhận lại” thiệt hại thông qua việc chịu những tổn thất để bù đắp thiệt hại đó cho ngƣời bị thiệt hại.
Hylton (2006), Duty in Tort Law: An Economic Approach, tlđd. 6 Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần tìm ngƣời gây thiệt hại để áp đặt trách nhiệm, các chủ thể trong xã hội nói chung sẽ trở nên e dè trong việc thực hiện các giao dịch, giao lƣu dân sự, do họ lo sợ trách nhiệm bồi thƣờng có thể xảy đến bất kỳ lúc nào, làm chính sách này lại trở nên phản tác dụng.