CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIEN VE HANH VI TIẾT KIỆM ĐIỆN CUA CÁC HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Tổng quan tài liệu Trong những năm qua, những vấn đề liên quan đến hành vi tiết kiệm điện năng đang ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm từ người dân và chính quyền địa phương. Điều này được thê hiện qua một sô tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước.1 Tong quan tài liệu liên quan đến hành vi người tiêu dùng Dựa trên lý thuyết hành vi người tiêu dùng trong xã hội, một số các học giả trong nước và quốc tế đã thực hiện bài nghiên cứu hay luận văn thạc sĩ dé nghiên cứu hành vi tiết kiệm điện trên các lĩnh vực khác nhau kinh tế học, tâm lý học, xã hội học,. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để nghiên cứu các hành vi tiêu dùng xanh (Hoàng Trọng Hùng và cộng sự, 2018), hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng (Hà Ngọc Thắng và Nguyễn Thành Độ, 2016), hành vi tiết kiệm năng lượng (Bùi Thị Mỹ Hạnh, 2022). TPB đề xuất rằng hành vi của một người là một chức năng trực tiếp của ý định của họ, là trung gian ảnh hưởng của thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức.
Theo Hoàng Trọng Hùng và cộng sự (2018) đã dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch, nghiên cứu ảnh hưởng của thái độ đối với tiêu dùng xanh, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, ý định tiêu dùng xanh đến với hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thành phó Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhóm nhân tố “thái độ” là nhân tố tác động mạnh nhất đến ý định tiêu dùng xanh và qua đó tác động gián tiếp đến hành vi tiêu dùng xanh. Thái độ là đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi. Cũng dựa trên lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB) của Ajzen dé phát trién mô hình nghiên cứu, hai tác giả Hà Ngoc Thang và Nguyễn Thanh Độ (2016) cho rằng cả yếu tổ thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi của người tiêu dùng có ảnh hưởng tích cực đến ý định mua trực tuyến.
Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguôn lực và các cơ hội dé thực hiện hành vi. Mặt khác, sau khi phân tích hành vi tiết kiệm điện của giới trẻ tỉnh An Giang dựa trên mô hình TPB, Bùi Thị Mỹ Hạnh (2022) cho rang ca ba yếu tố thái độ, chuẩn mực chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức có liên quan đáng kê với ý định, từ đó dẫn đến thực hiện hành vi tiết kiệm điện năng. Trong đó, yếu tố chuẩn chủ quan đề cập đến áp lực xã hội nhận thức được dé thực hiện hành vi. Các chuân mực chủ quan phát sinh từ niềm tin về những kỳ vọng và hành vi chuẩn mực của người khác, tức là niềm tin về mức độ mà những người quan trọng khác sẽ chấp thuận hoặc không chấp nhận hành vi đó.
Ngoài lý thuyết mô hình hành vi hoạch định, lý thuyết mô hình kích hoạt chuân mực (NAM) cũng là lý thuyết quan trọng dé nghiên cứu về nhận thức về trách nhiệm, nhận thức về hậu quả anh hưởng đến hành vi của người tiêu dng. Nguyen Ngoc Hien & Pham Hoang Chi (2020) đã kết hợp các yếu tố của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM), kết quả cho thấy các yếu tố trong TPB và NAM và nhân tố cộng thêm (nhận thức lợi ích) là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định tiết kiệm điện của người dân. Hơn nữa, hành vi tiết kiệm điện chịu tác động mạnh mẽ của ý định tiết kiệm điện và tuyên truyền xã hội.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến hành vi tiết kiệm điện năng của hộ gia đình Dựa trên lý thuyết chung về hành vi người tiêu dùng, các yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm điện của người dân cũng như các hộ gia đình bao gồm thái độ, chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng từ xã hội), nhận thức về hậu quả, nhận thức về trách nhiệm. Thái độ tích cực đối với tiết kiệm năng lượng có thé thúc day sự tham gia của người tiêu dùng vào việc tiết kiệm năng lượng bằng cách ảnh hưởng đến các hành vi tiết kiệm năng lượng hàng ngày của họ (Mỹ Hạnh, 2022).
Khi các cá nhân có một thái độ tích cực đối với hành vi, ý định của họ dé tham gia vào một hành vi cụ thé được tăng lên và ngược lại (Shanyong Wang and et al, 2018). Thái độ tham khảo mức độ mà một người đánh giá về tiết kiệm điện là tích cực hay không tích cực, phụ thuộc vào lợi ích hay tối đa hóa chỉ phí về thời gian, công sức hay tiền bạc (Như Quỳnh, 2013). Trong khi đó, chuẩn chủ quan (ảnh hưởng từ xã hội) trong phân tích hành vi tiết kiệm điện đề cập đến áp lực xã hội tác động đến nhận thức của cá nhân đối với vấn đề tiết kiệm điện. Các áp lực xã hội này đến từ những người có ảnh hưởng quan trọng với cá nhân đó chang hạn như gia đình, đồng nghiệp, bạn bè.
Cac cá nhân có xu hướng tuân theo những kỳ vọng hoặc quan điểm của những người quan trọng đối với họ. Nếu các cá nhân nghĩ rằng những người quan trọng mong đợi họ thực hiện hành vi sử dụng điện tiết kiệm, thì nhiều khả năng họ sẽ thực hiện hành vi đó (Shanyong Wang and et al, 2018). Hai yếu tố nhận thức về trách nhiệm và nhận thức về hậu quả của lãng phí điện cũng đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đây ý định, hành vi tiết kiệm điện của mỗi cá nhân trong hộ gia đình. Trong đó, nhận thức về trách nhiệm là nhận thức chính của các hộ gia đình về hành vi sử dụng và tiết kiệm điện của mình mà không đồ lỗi cho chính phủ, ngành điện và cộng đồng xã hội.
Kết quả của các nghiên cứu cho thấy những người tin rằng việc sử dụng năng lượng không có kế hoạch có thể gây ra những hậu quả tiêu cực đối với môi trường và cảm thấy cá nhân phải chịu trách nhiệm về những vấn đề này, sẽ thúc đây trách nhiệm mạnh mẽ hơn để giúp giải quyết những vấn đề này bằng cách giảm sử dụng năng lượng (Như Quỳnh, 2013; Bo Wang và cộng sự, 2018). Mặt khác, trong bài nghiên cứu khác của Nguyễn Xuân Tuyết (2017), thay vì hai yếu tố nhận thức về hậu quả và nhận thức về trách nhiệm ảnh hưởng trực tiếp đến ý định tiết kiệm điện thì hai yếu tố này lại là tiền tố của thái độ đối với việc tiết kiệm điện, có nhận thức thì mới hình thành lên thái độ tích cực đối với hành vi tiết kiệm điện. Bên cạnh các nghiên cứu về bốn yếu tố trên, một số nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về các yếu tô bồ sung khác như thói quen, giáo dục và truyền thông về lợi ích của tiết kiệm điện sinh hoạt của hộ gia đình. Thói quen hoặc hành vi trong quá khứ đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành các hành vi được lặp đi lặp lại theo thời gian như thói quen tắt các thiết bị điện khi không sử dụng.
Tuy nhiên, để tạo được thành thói quen, hành vi cần được lặp lại theo một khuôn mẫu 6n định dé hình thành được chuỗi phan xạ trong não bộ và sử dụng trong tương lai (Linh Trang, 2022; Shanyong Wang, 2018). Với yếu tố giáo dục và truyền thông, đây là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát tri giác của cá nhân. Giáo dục và truyền thông càng mạnh mẽ thì nhận thức của người dân về lợi ích của sử dụng điện năng tiết kiệm càng được nâng cao theo hướng tích cực, từ đó sẽ chuyên biến thành hành vi tiết kiệm điện. Một trong những yếu tố quan trọng khác tác động đến ý định và hành vi tiết kiệm điện là yếu tố về nhân khẩu học.
Nguyễn Thanh Tùng và cộng sự (2020) với bài nghiên cứu về mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khâu học với hành vi tiết kiệm năng lượng trong hộ gia đình ở Hà Nội cho thấy các yếu tố thuộc về nhân khẩu học xã hội như giới tính và thu nhập ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiết kiệm năng lượng trong hộ gia đình. Trong đó, yếu tố thu nhập đóng vai trò như một nhân tố kích thích các hành vi tiết kiệm năng lượng Giá năng lượng có tác động lớn nhất đến hành vi tiết kiệm năng lượng. Thái độ và nhận thức tiết kiệm năng lượng đóng vai trò trong việc hình thành ý định tiết kiệm năng lượng và gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm năng lượng. Sự khác biệt về trình độ học vấn có ảnh hưởng đến việc phân loại các thiết bị tiết kiệm năng lượng.3 Các nghiên cứu về giải pháp thúc đấy hành vi tiết kiệm điện của các hộ gia đình Các giải pháp được đề xuất trong các bài nghiên cứu phần lớn là nâng cao nhận thức của người dân thông qua giáo dục, tuyên truyền và phô biến sâu rộng cách thức sử dung điện tiết kiệm và hiệu quả, các chỉ thị, hướng dẫn và các quy định về tiết kiệm điện cho người dân dưới nhiều hình thức khác nhau.
Từ đó, giúp người dân hình thành thói quen sử dụng điện một cách hiệu quả và hợp lý (Linh Trang, 2022). Nên thực hiện giáo dục tiết kiệm điện hiệu quả trong các trường học dé có được nhiều người trong tương lai thực hiện tiết kiệm điện. Sử dụng phương pháp tiếp cận sư phạm, các chương trình giáo dục cân quan tâm đên việc nâng cao nhận thức về nhu câu tiệt kiệm điện của giới trẻ. Các chương trình nên tập trung vào việc cải thiện thái độ liên quan đến năng lượng, ý định hành vi và chiến lược hành động (Mỹ Hạnh, 2022).
Cần có sự phối hợp và kết hợp tốt giữa các cơ quan Trung ương và địa phương trong việc tăng cường năng lực triển khai các cơ chế hỗ trợ, giám sát và thực hiện việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.