CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC PHẦN MỀM ĐANG ĐƯỢC ỨNG DỤNG 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các công nghệ thường được sử dụng Các hệ thống trợ giúp quản lý vận hành cấp nước tưới đã được phát triển và ứng dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, trong đó điển hình là các hệ thống của Úc, Mỹ, Canada. Trong vòng 20 năm qua, nhiều công nghệ đã được ứng dụng trong các hệ thống trợ giúp quản lý vận hành tưới, một số công nghệ hiện đại, mang lại hiệu quả cao có thể kể đến như các công nghệ SCADA, WebGis….2 Công nghệ SCADA SCADA là chữ viết tắt của Supervising Control and Data Acquisition, có nghĩ là điều khiển giám sát và thu thập số liệu. Đây là một công nghệ cho phép thu thập thông tin dữ liệu từ những cảm biến từ xa liên tục, là công nghệ rất phù hợp để nâng cao hiệu quả khai thác công trình thuỷ lợi. Những thiết bị này được kết nối với những liên kết tín hiệu hoặc đường truyền với băng truyền từ thấp đến cao truyền đến các trung tâm dữ liệu giúp cho các chuyên gia giám sát và điều khiển hệ thống.
Công nghệ SCADA là một hệ thống mạng mở và mạng đóng, có thể phản hồi trực tiếp trong hệ thống. Công nghệ này được áp dụng cho vùng tưới Orange Cove của Mỹ tự động điều hành quản lý tưới thông qua hệ thống thông tin là một hệ thố ng được hiện đại hóa trong công tác quản lý các trạm bơm tưới và hệ thống cung cấp nước bằng công nghệ giám sát, đo đạc và quyết định điều hành tự động. Hệ thống này đã giúp cho vùng hưởng lợi giảm được năng lượng điện dùng, chí phí sử dụng điện trong vận hành, mang lại hiệu quả cho việc tưới, đáp ứng nhu cầu các chỉ số sử dụng nước.3 Công nghệ WebGis WebGIS là một hệ thống phức tạp cung cấp truy cập trên mạng với những chức năng như là lưu trữ hình ảnh, hợp nhất dữ liệu, thao tác dữ liệu, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian. Công nghệ này được dùng để quản lý hồ đập và hệ thống tưới Kwater của Hàn Quốc, được phát triển để giám sát an toàn hồ đập và kỹ thuật dự báo nhu cầu nước trong thời gian ngắn.
Phát triển kỹ thuật vận hành tối ưu đập 5 và dự báo chất lượng nước. Quản lý thông tin sông ngòi và cơ sở hạ tầng thủy lợi với GIS.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trước sự phát triển của công nghệ thông tin, ngành thủy lợi cũng có các trung tâm tin học có các ứng dụng rất hữu ích vào thực tế. Các trung tâm này thường trực thuộc các trường, viện nghiên cứu. Đồng thời, dưới sự tài trợ của nước ngoài, cũng có một vài hệ thống thông tin đang tồn tại và hoạt động trên địa bàn cả nước.
Trong đó phải kể đến một số sản phẩm khoa học công nghệ nổi bật như sau.1 Công nghệ SCADA Công nghệ SCADA đã được áp dụng khá phổ biến trong công tác quản lý hệ thống tưới ở cả miền Bắc và miền Nam. Ở Miền Bắc, Trường Đại học Thủy lợi và Trung tâm Công nghệ phần mềm Thủy lợi thuộc Viện KHTL Việt Nam đã có những ứng dụng rất đáng trân trọng. Ở phía Nam, có Phòng Hợp tác và Quốc Tế, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cũng ứng dụng công nghệ này để áp dụng cho việc quản lý thông tin thủy lợi cho nhiều hệthống. Hệ thống SCADA gồm 2 phần chính: Phần mềm giám sát hệ thống thuỷ nông và các thiết bị phần cứng.
Phần mềm giám sát hệ thống thủy nông Phầm mềm giám sát hệ thống thủy nông được xây dựng với mục đích cung cấp thông tin kịp thời về tình trạng phân phối nước trên hệ thống thuỷ nông để giúp cán bộ quản lý điều hành phân phối nước hợp lý nhằm cung cấp nước đủ và đồng đều trên các khu vực của hệ thống và phát hiện những vị trí lấy nhiều hoặc thừa nước. Như vậy, phần mềm giám sát Hệ thống thuỷ nông là một công cụ tiện ích đối với các công ty Khai thác công trình thuỷ lợi để từng bước hiện đại hoá và nâng cao hiệu quả khai thác các hệ thống thuỷ nông, giảm chi phí vận hành. Khi sử dụng, phần mềm được cài đặt tại trụ sở công ty Khai thác công trình thuỷ lợi và tuỳ điều kiện cơ sở vật chất sẵn có, phần mềm sẽ tự động kết nối và nhận số liệu từ ngoài hiện trường về Trung tâm (nếu có hệ thống thiết bị đầu đo 6 tự động) hoặc phải nhập bằng bàn phím các số liệu báo về từ hiện trường (nếu chưa có thiết bị mà phải đo đạc bằng thủ công- bằng cọc thuỷ chí). Nếu hệ thống giám sát bằng các thiết bị tự động thì người quản lý có thể điều khiển giám sát hệ thống thủy nông tại bất cứ máy tính nào được cài đặt phần mềm và có khả năng kết nối qua đường điện thoại.
Giao diện của phần mềm được xây dựng trên nền tảng đối tượng bản đồ (MapObjects) của hãng ESRI. Như vậy, phần mềm làm việc với một đối tượng bản đồ địa lý (đã được số hoá) với đầy đủ các tính năng quản lý về mặt địa lý. Nó vừa giúp cho người sử dụng dễ dàng điều hành hệ thống quan trắc, đồng thời có thể hình dung cụ thể về hệ thống thuỷ nông đang điều hành. Trong báo cáo này xin giới thiệu chi tiết về phần mềm trong điều kiện sử dụng đồng bộ với hệ thống thiết bị đo nước tự đông, từ xa.
Tính năng của phần mềm giám sát hệ thống thuỷ nông: - Thu thập dữ liệu tức thời: Phần mềm cho phép người sử dụng có thể quan sát số liệu ở các trạm, ở bất kỳ thời điểm nào bằng cách quay số cưỡng bức tới trạm. Ví dụ tại một thời điểm nào đó cán bộ quản lý muốn biết mực nước, độ mở cống và lưu lượng tại các điểm trên hệ thống, có thể chuyển chế độ đo đạc và ghi vào tệp dữ liệu theo chu kỳ (hàng giờ hay hàng vài giờ.) sang chế độ giám sát tức thời. - Thu thập theo chu kỳ: Sau khi đã định chu kỳ thu thập dữ liệu cho phần mềm, máy tính sẽ tự động quay số xuống các trạm, thu thập số liệu quan trắc và ghi vào cơ sở dữ liệu. Tuỳ theo mức độ chính xác mà người quản lý muốn, có thể cài đặt quan trắc số liệu theo từng giờ hay mỗi ngày 4 lần như chế độ quan trắc khí tượng thuỷ văn hoặc có thể theo phút.
Tính toán lưu lượng, lượng nước (m 3) theo ngày, theo đợt tưới hoặc cả vụ qua công trình đo nước từ các số liệu đo. - Hiển thị dữ liệu: Các số liệu thu thập, lưu lượng, lượng nước qua công trình đo nước được hiển thị dưới dạng bảng, dạng đồ thị theo thời gian và theo yêu cầu của người sử dụng. - Điều khiển từ xa: ở chế độ quay số cưỡng bức, phần mềm cho phép vận 7 hành đóng mở cửa cống (nếu cống vận hành bằng động cơ) hoặc tắt mở máy bơm. - Điều khiển giám sát tại nhiều nơi: Người sử dụng có thể cài đặt phần mềm tại nhà, tại máy tính xách tay và kết nối tới các trạm đo qua đường điện thoại.
Như vậy, có thể điều khiển giám sát hệ thống thủy nông của họ tại bất cứ nơi nào trên thế giới miễn là ở đó có điều kiện kết nối với mạng điện thoại công cộng. - Quản lý thời gian lưu giữ số liệu của các RTU tại các trạm: Đối với mỗi trạm đo người sử dụng có thể thay đổi thời gian cập nhật số liệu của RTU tại các trạm tuỳ theo yêu cầu cụ thể. - Tính mở của hệ thống: Phần mềm cho phép người sử dụng có thể thêm, bớt hay thay đổi thông tin của các trạm đo trên phần mềm để phù hợp với điều kiện thực tế. Các thiết bị phần cứng Hệ thống SCADA áp dụng trong công tác điều hành tưới tiêu bao gồm các thiết bị chính sau: - Thiết bị ngoài hiện trường (tại các điểm đo): Thiết bị thu thập số liệu (RTU); Thiết bị đo mực nước; Thiết bị đo độ mở cống; Động cơ đóng mở cống ; Thiết bị đo mưa; Modem điện thoại (hoặc modem vô tuyến trong trường hợp thu phát bằng vô tuyến); Thuê bao đường điện thoại hoặc thiết bị thu phát vô tuyến; Thiết bị chống sét.
- Thiết bị tại Trung tâm điều hành: Máy tính; Thuê bao đường điện thoại hoặc thiết bị thu phát vô tuyến; Modem điện thoại (hoặc modem vô tuyến trong trường hợp thu phát bằng vô tuyến); Chống sét đường điện thoại hoặc vô tuyến. Nguyên lý hoạt động của các thiết bị 8 Các tín hiệu của các thiết bị đo mực nước, độ mở cống, đo mưa được đưa đến hộp kỹ thuật, trong đó có thiết bị RTU (Remote Terminal Unit) đặt tại hiện trường. Mục đích hộp kỹ thuật là chuyển đổi, chuẩn hóa các tín hiệu điện từ các thiết bị đo ra các thông tin đo đạc mực nước, độ mở cống, lượng mưa dưới dạng số để cán bộ quản lý sử dụng cho mục đích quản lý điều hành công trình. Thiết bị RTU còn có chức năng lưu trữ số liệu, hiển thị số liệu tại chỗ, có thể giao tiếp và truyền thông tin với các máy tính ở khoảng cách không giới hạn qua đường điện thọai công cộng hoặc thiết bị truyền vô tuyến thông qua phần mềm giám sát hệ thống thuỷ nông đã trình bày ở trên.
Ưu nhược điểm của công nghệ SCADA Ưu điểm: Công nghệ này là có khả năng đưa ra được giao diện thân thiện người dùng, có khả năng kết nối với các cảm biến tự động đo các thông tin về nước (mực nước, chất lượng nước). Việc ứng dụng công nghệ SCADA mang hiệu quả cao trong việc kiểm soát mực nước, lượng nước cấp qua đầu các kênh là rất cần thiết. Nhược điểm: Công nghệ này chỉ điều khiển và giám sát một cách tập trung. Công nghệ này chưa được ứng dụng rộng rãi mà chỉ mang tính chất ứng dụng thí điểm.
Công nghệ này không được ứng dụng rộng rãi là do: Các thiết bị chủ yếu là nhập ngoại, nên giá thành cho một trạm đo tương đối đắt Các thiết bị khi bị hỏng là phải thay thế hoàn toàn không thể sửa được.