chương I, cấu trúc ĐT tiếng Hàn chia thành hai phần chính là phần thân ĐT (eogan) và đuôi ĐT (eomi). Thân ĐT là trung tâm và kết hợp với nhiều đuôi khác nhau làm thay đổi tính chất của ĐT giúp ĐT biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp, đó chính là hiện tượng hwalyong (conjugation/chia đuôi vị từ). Sự biến đổi (chia ĐT) này lại được chia thành hai loại, loại chia có quy tắc và loại bất quy tắc. Ở đây, “có quy tắc” và “không có quy tắc” được hiểu là có hay không có sự biến đổi khi phát âm và triết tự khi ĐT được chia.
Điều cần lưu ý trong nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hàn đối với người nước ngoài ở đây là các trường hợp ĐT bất quy tắc. Trên đây là các tiểu loại ĐT tiếng Hàn được phân chia theo tiêu chuẩn ngữ pháp hình thức truyền thống. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hƣớng phân loại theo tiêu chuẩn ý nghĩa cú pháp Tiếp theo các nghiên cứu kể trên, còn có nhiều nghiên cứu liên quan đến đặc trưng ý nghĩa cú pháp của các ĐT đơn lẻ. Tiêu biểu có nghiên cứu về ĐT „issda” (có) của các tác giả Kim Chagyun (1982), Seo Jeongsu (1991), Seong Gwangsoo (1979), Hwang Byeongsun (1982); ĐT „juda‟(cho) của Park Geumyong (1986), Lee Gidong (1979), Park Hyungik (1989); „badda, eodda, beorida,ilhda‟ (nhận, giành được, bỏ đi, mất) của Shin Hyunsook (1984); „boda‟ (xem/nhìn/đọc…), „daeda‟ sờ/chạm) của Shin Hyunsook (1991); „oda, gada‟ (đến, đi) của Lee Gidong (1977), Jeon Sutae (1986); „pulda‟ (cởi, gỡ) của Kim Songwon (1986); „dalmda‟ (giống) của Kang Junghee (1990); ĐT „doeda‟ (trở thành) của Seo Jeongsu (1991); „gyeondida‟ (chịu đựng) của Hong Jaeseong (1990); „dolda‟ (quay tròn) của Hong Jaeseong (1991), „sijaghada‟ (bắt đầu) của Park Seungyun (1984)… Hướng phân loại này không chỉ có các nghiên cứu về các trường hợp ĐT riêng lẻ như trên, còn có nhiều nghiên cứu về các nhóm ĐT tiếng Hàn dựa vào tiêu chuẩn cú pháp.
Những nghiên cứu về các loại ĐT theo chức năng cú pháp có Kim Yeonghee (1977), Lee Gidong (1978), Hong Jaeseong (1984). Nghiên cứu về ĐT chuyển động có Hong Jaeseong (1986), Kim Eungmo (1989), Jeon Sutae (1987). Cheon Giseok (1985) nghiên cứu về nhóm ĐT chỉ phương hướng, Kim Jaebong (1988) về nhóm ĐT về đội, mặc,đeo…các đồ vật lên người. Kim Hongsu (1989) có nghiên cứu về nhóm ĐT chỉ tâm lý, Park Hyungik (1991) có nghiên cứu về nhóm ĐT trao nhận …v.
+ Hƣớng phân loại theo tiêu chuẩn ý nghĩa: Phân loại thông qua khảo sát về mặt ý nghĩa bắt đầu từ các nghiên cứu của Choi Hyunbae (1929), Hong Gimoon (1948), tiếp đó một loạt các nghiên cứu của Choi Janglyeol (1980), Cheon Giseog (1984), Bag Seonja (1990), Jeon Juli (2004)…v.v… Nhưng ban đầu những nghiên cứu này được tiến hành kết hợp phân loại dựa vào tiêu chí ý nghĩa kết hợp với tiêu chí chức năng cú pháp nên tỏ ra hạn chế bởi sự không rõ ràng trong chọn lựa tiêu chí phân loại. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số nghiên cứu khác về phân loại ĐT dựa trên tiêu chuẩn ý nghĩa về thời thể (sangjeog uimi) dựa vào các dạng kết hợp về mặt cú pháp. Tiêu biểu cho những nghiên cứu này có Cho Minjeong (2001), Nam Seungho (2004), Go Yeonggeun ( 2007). Theo đó các nghiên cứu này đã phân loại các ĐT dựa vào đặc điểm về thời thể.
Những nghiên cứu toàn diện về ĐT có liên quan đến cấu trúc ngữ nghĩa, còn có Seo Jeongsu (1968), Park Mansu (1989), Kim Dongsik (1993), Yang Jeongseok (1995), Woo Hyeongsik (1996, 1998), Hong Jaeseong (1996), Han Songhwa (1998). Hƣớng phân loại theo tiêu chuẩn ngữ nghĩa - ngữ dụng Á p dụng các lý thuyết về phân loại từ loại theo ý nghĩa (vai nghĩa, ý nghĩa từ vựng ngữ pháp) của các học giả u Mĩ như Fillmore, Lyons, Dik, Palmer, D.Dowty, Jackendoff, Pustejovsky.,từ khoảng những năm 80 của thế kỉ trước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu cách phân loại ĐT tiếng Hàn dựa theo tiêu chí này. Theo đó, ĐT tiếng Hàn được phân loại thành ĐT nói năng, ĐT chuyển động, ĐT tình thái, ĐT tâm lý, ĐT tình cảm, ĐT tư duy…Tùy vào việc áp dụng lý thuyết phân loại nào, sẽ cho ra các kết quả phân loại ĐT khác nhau. Tiêu biểu có các nghiên cứu sau đây: Kim Yeonghee (1977), Lee Gidong (1978), Hong Jaeseong (1984), Hong Jaeseong (1986), Kim Eungmo (1989), Jeon Sutae (1987).
Từ sau những năm 2000 trở về đây, nhiều nghiên cứu trên quan điểm ngôn ngữ học tri nhận (inji eoneohag) liên quan đến vị từ đã được tiến hành. Tiếp đó lần lượt Jeong Byeongcheol ( 2010), Oh Hyunjeong (2009) Lee Kyungsoo ( 2007), Chang Yeong sook.v… đã có những nghiên cứu ứng dụng phương pháp tiếp cận mang tính tri nhận về cụm ĐT và phân tích ngữ nghĩa tri nhận liên quan đến mở rộng nghĩa của ĐT. Khác với những nghiên cứu chỉ tập trung vào hình thái từ vựng, khả năng kết hợp cú pháp và phương diện ý nghĩa từ vựng trước đây, những nghiên cứu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này có ý nghĩa mới khi tiếp nhận quá trình phân tích từ vựng thông qua quá trình xử lý tri nhận của con người và quá trình tiếp nhận ý nghĩa của chúng. Có thể tóm lược bức tranh phân loại ĐT tiếng Hàn qua hình vẽ sau: Phân loại ĐT Tiếng Theo tiêu chuẩn Theo tiêu Theo tiêu chuẩn ngữ hình thái chuẩn ý nghĩa nghĩa ngữ dụng cú pháp ĐT ĐT ĐT ĐT Có chỉ ĐT Các Nội Bị quy hành ĐT ĐT ĐT ĐT Chính, ĐT ĐT động, động, ĐT tắc … vi chuyển nói tình Cho … Ngoại Sai Bất đơn Hoàn hoạt … động năng thái nhận bổ trợ lẻ thành động khiến quy động tắc nói năng Toàn cảnh bức tranh phân loại động từ tiếng Hàn 1.
Cơ sở lý thuyết và tổng quan về nghiên cứu ngữ pháp và từ loại tiếng Hàn Có thể chia các nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Hàn thành hai giai đoạn : giai đoạn của ngữ pháp truyền thống (từ 1897-1963), giai đoạn Ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp tạo sinh và giai đoạn NPCN (1963-hiện nay). Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hàn hiện đại bắt đầu từ cuối thế kỉ 19, hầu hết là dựa vào các nhà ngữ pháp phương Tây như J.Underwood (1890), sau đó là G. Từ đầu thế kỉ 20, xuất hiện các nhà ngữ pháp Hàn Quốc tiêu biểu như Yu Giljoon 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngoài ra còn có Jeong Ryeolmo (1946), Lee Sungnyeong (1956, 1961).
Nghiên cứu ngữ pháp theo trường phái cấu trúc, tạo sinh đã được nhà ngôn ngữ học người Hàn Joo Sigyung giới thiệu vào Hàn Quốc và chính thức tạo được chỗ đứng tại Hàn Quốc vào những năm 50-60 bởi ảnh hưởng từ N. Có thể nói các nghiên cứu về cú pháp tiếng Hàn trong những năm 1960 có đặc điểm chung là sự miêu tả dựa trên sự tổng hợp của ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp tạo sinh. [118, 26-27] Có nhiều quan điểm phân định từ loại trong tiếng Hàn, tuỳ theo tiêu chí của mỗi tác giả và cách nhìn nhận về khái niệm “từ” dẫn đến kết quả phân định từ loại khác nhau. Theo Lee Kwangjeong (2008), có thể chia thành 3 thời kì trong lịch sử hình thành, phát triển các nghiên cứu về từ loại ở Hàn Quốc.
Đó là thời kì du nhập, tiếp nhận khái niệm “từ loại” vào Hàn Quốc (1900~1930) với nhà ngữ pháp tiên phong là Ju Sigyung (1905,1908, 1909,1910,1911,1912,1913,1914), đến thời kì ổn định và định hình (1930~1946) và thời kì phổ cập và phát triển (1946~1963) mà tiêu biểu là Choi Hyeonbae (1930, 1934, 1937, 1946,1948,1956 a,b,c). Có thể thấy các nhà ngữ pháp tiếng Hàn chia từ loại tiếng Hàn ít nhất là 5 từ loại, nhiều là đến 13 từ loại khác nhau. Nhưng cách phân định chiếm tỉ lệ cao nhất và phổ biến nhất là các phân chia thành 9 từ loại theo ngữ pháp miêu tả truyền thống. Choi Hyeonbae (1971) và Nam Gishim, Go Yeonggeun (1993) còn sắp xếp mức độ độc lập của từ loại dựa vào khả năng có hay không thể đứng độc lập của từ loại.
Theo đó, từ cảm thán được cho là có tính độc lập cao nhất, tiếp đó là thể từ, vị từ, phó từ và định từ, trợ từ được cho là từ phụ thuộc. Tiếp thu những ý kiến chung nhất kể trên, chúng tôi đã tổng hợp lại và lựa chọn kiểu phân loại chung nhất, trên lập trường của người nghiên cứu coi tiếng Hàn là 1 Trong hầu hết các trường hợp, từ “quốc ngữ” mà chúng tôi sử dụng trong luận án này có nghĩa là “tiếng Hàn” do chúng tôi giữ nguyên nghĩa phiên âm từ gốc Hán. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một ngoại ngữ. Tiêu chí phân loại của chúng tôi chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái nổi bật của tiếng Hàn (giúp cho người học dễ hình dung về hai lớp từ chính “khả biến” và “bất biến” trong tiếng Hàn, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ trong ngữ lưu.) Dưới hai lớp từ thể hiện đặc trưng hình thái của tiếng Hàn, chúng tôi chia thành 6 nhóm từ lớn (không kể từ “ida” (là) mang tính trung lập).
Ở lớp từ “khả biến” có các từ loại mà theo ngữ pháp truyền thống gọi là “ĐT” và “tính từ” (Ví dụ: gongbuhada (học), saranghada (yêu), il hada (làm), gada (đi), chupda(lạnh), ttungttunghada (béo). Hai lớp từ này đều biến đổi hình thái khi hoạt động. (Câu trần thuật, thìquá khứ.) Chup-ta( tính từ “lạnh” ở dạng nguyên thể) chu-uayo. (Câu trần thuật, dạng tương đối lịch sự.
Đuôi từ biến đổi 2 lần do “chup-ta” thuộc nhóm từ bất quy tắc có phụ âm cuối “ㅂ-p”, khi gặp nguyên âm thì “ㅂ-p” chuyển thành “u” và kết hợp với đuôi “–eo yo” để thành câu trần thuật. (Câu trần thuật, dạng lịch sự.(Câu trần thuật, thìquá khứ. Các nghiên cứu về động từ nói năng tại Hàn Quốc Qua khảo sát sơ bộ, có thể chia các nghiên cứu về ĐTNN tiếng Hàn thành hai hướng chính. Hướng thứ nhất là các nghiên cứu ĐTNN tiếng Hàn liên quan đến bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa từ vựng, tiêu biểu là nghiên cứu về bổ ngữ trích dẫn (trực tiếp và gián tiếp) có chứa “-go” xuất hiện trong cấu trúc câu, mệnh đề có ĐTNN.
Bang Seong Won (2000) trong “Nghiên cứu về câu có chứa ĐTNN quốc ngữ” cho rằng nếu các ĐTNN- phương tiện để biểu đạt hành vi phát ngôn yêu cầu có trợ từ đối cách “-ege” và liên từ “-go” trong bổ ngữ trích dẫn phát ngôn thì sẽ tạo nên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mệnh đề trích dẫn trực tiếp. Tùy theo ý nghĩa Thức (seobeob/mood) của bổ ngữ mà có thể chia ĐTNN thành ĐTNN trần thuật (seosuldongsa), ĐTNN tiếp nhận (suhaengdongsa), ĐTNN dạng nghi vấn (euimundongsa), ĐTNN dạng phổ quát (pogwaldongsa).