Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Ba tiểu loại động từ tiếng Hàn qua một phương diện phân loại (có đối chiếu với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Trần Thị Hường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đinh Văn Đức, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 62 22 01 10).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của đề tài xuất phát từ vị trí trung tâm của động từ trong cấu trúc ngữ nghĩa và cú pháp của câu. Theo các lý thuyết ngữ pháp hiện đại (tiêu biểu như L. Tesnière, Go Yeonggeun, U Hyeongsik, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Văn Lộc, Đinh Văn Đức, Lê Thị Thơm), động từ đóng vai trò chi phối các thành tố nghĩa xung quanh, là hạt nhân tổ chức sự tình. Trong thực tiễn nghiên cứu và đào tạo tiếng Hàn tại Việt Nam cũng như trên thế giới, dù ngôn ngữ này đang được quan tâm rộng rãi, số lượng công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân định từ loại tiếng Hàn, đặc biệt là nghiên cứu phân loại động từ tiếng Hàn trong sự đối chiếu có hệ thống với tiếng Việt, còn rất hạn chế. Người dạy và người học tiếng Hàn thường gặp khó khăn trước tính đa trị phức tạp của động từ và cấu trúc nghĩa của câu tiếng Hàn. Do đó, việc vận dụng thành tựu của ngữ pháp chức năng để nhận diện, miêu tả và phân loại động từ tiếng Hàn phục vụ mục đích giao tiếp và đối chiếu ngôn ngữ là yêu cầu cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện, làm rõ cấu trúc của các sự tình có chứa các tiểu nhóm thuộc ba tiểu loại động từ tiếng Hàn gồm động từ nói năng, động từ tình thái và động từ chuyển động trong sự đối chiếu với tiếng Việt; phân tích, miêu tả thành phần cấu tạo và chức năng ngữ nghĩa của chúng với tư cách là hạt nhân tổ chức câu, từ đó giới thiệu toàn diện đặc điểm hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa - ngữ pháp nhằm ứng dụng vào việc sử dụng chuẩn xác trong giảng dạy, học tập và giao tiếp tiếng Hàn.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định khái niệm, đặc điểm chung, làm sáng tỏ đặc điểm hình thái, chức năng cú pháp, ngữ nghĩa - ngữ pháp của động từ tiếng Hàn nói chung và ba tiểu loại động từ nói năng, động từ tình thái, động từ chuyển động tiếng Hàn nói riêng.
  2. Phân tích, miêu tả, phân loại ba tiểu loại động từ tiếng Hàn và làm rõ vai trò của chúng như là hạt nhân tổ chức câu.
  3. Xác định mô hình cấu trúc ngữ pháp - ngữ nghĩa của mệnh đề/câu có chứa ba tiểu loại động từ tiếng Hàn.
  4. Đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa ba nhóm động từ của tiếng Hàn và tiếng Việt, từ đó rút ra những ứng dụng liên quan.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ba tiểu loại động từ được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp tiếng Hàn:

  • Động từ nói năng (ĐTNN - verbal verbs);
  • Động từ tình thái (ĐTTT - modal verbs);
  • Động từ chuyển động (ĐTCĐ - motion verbs), được đặt trong sự so sánh, đối chiếu với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về phạm vi ngữ liệu: Khảo sát các phát ngôn đời thường qua kịch bản phim truyền hình Hàn Quốc, tác phẩm văn học, bản tin báo chí, kết hợp với cứ liệu từ 13 bộ giáo trình tiếng Hàn từ sơ cấp đến cao cấp (từ quyển 1 đến quyển 6) của các cơ sở đào tạo tại Hàn Quốc và 3 bộ từ điển tiếng Hàn (Từ điển tiếng Hàn của Đại học Yonsei xuất bản năm 2010, Đại từ điển tiếng Hàn của Đại học Korea, Từ điển tiếng Hàn chuẩn của Viện ngôn ngữ quốc gia Hàn Quốc), cùng các từ điển đối chiếu Hàn - Việt.
  • Về dung lượng khảo sát: Nhóm động từ nói năng gồm khoảng 100 từ chính danh; nhóm động từ tình thái gồm gần 50 đơn vị (các tổ hợp ngữ pháp có giá trị ngữ pháp - ngữ nghĩa tương đương động từ tình thái tiếng Việt); nhóm động từ chuyển động gồm hơn 100 từ.
  • Về phạm vi thời gian: Khảo sát các hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Hàn và tiếng Việt hiện đại, sử dụng số liệu tần số từ điều tra năm 2005 của Viện ngôn ngữ học Hàn Quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu từ loại và động từ trong ngữ pháp tổng quát, ngữ pháp tiếng Hàn và ngữ pháp tiếng Việt qua các thời kỳ:

  1. Các nghiên cứu về ngữ pháp và từ loại tiếng Hàn: Lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hàn được phân chia thành các giai đoạn: ngữ pháp truyền thống (1897-1963) khởi đầu từ các học giả phương Tây như J. Underwood (1890), G. Gale (1894) và các tác giả Hàn Quốc như Yu Giljoon (1897), Kim Doobong (1934), Park Seungbin (1935), Choi Hyunbae (1937), Jeong Ryeolmo (1946), Lee Sungnyeong (1956, 1961); giai đoạn ngữ pháp cấu trúc, tạo sinh chịu ảnh hưởng từ N. Chomsky qua sự du nhập của Ju Sigyung vào thập niên 1950-1960; và giai đoạn ngữ pháp chức năng từ sau năm 1963 đến nay. Về phân loại động từ tiếng Hàn, văn bản tổng hợp 3 khuynh hướng:
  • Hướng hình thái: Phân chia nội động và ngoại động (Hwang Hwasang 2006, Han Songhwa 2000/2006, Heo Ung 1983, Choi Hyunbae 1985, Nam Gishim và Go Yeonggeun 1985/1993, Ju Sigyeong 1919, Kim Jongrok 2008). Trong đó, tiêu chí trợ từ đối cách (-eul/-reul) và khả năng kết hợp với đuôi thể hiện tại tiếp diễn (-eoiss- / -goiss-) được Im Hongbin (1975), Kim Chagyun (1982), Jung Taegu (1994), Han Dongwan (2000) khai thác để khu biệt nội động từ có kết thúc và ngoại động từ. Ngoài ra còn có phân loại động từ bị động, chủ động, sai khiến (Cho Kyungsoon 2009); động từ chính (bondongsa) và động từ bổ trợ (bojodongsa); động từ có quy tắc và bất quy tắc.
  • Hướng ý nghĩa - cú pháp: Nghiên cứu các động từ đơn lẻ (như issda, juda, badda, eodda, beorida, ilhda, boda, daeda, oda, gada, pulda, dalmda, doeda, gyeondida, dolda, sijaghada của Kim Chagyun, Seo Jeongsu, Seong Gwangsoo, Hwang Byeongsun, Park Geumyong, Lee Gidong, Park Hyungik, Shin Hyunsook, Jeon Sutae, Kim Songwon, Kang Junghee, Hong Jaeseong, Park Seungyun); nghiên cứu nhóm động từ theo cú pháp (Kim Yeonghee 1977, Lee Gidong 1978, Hong Jaeseong 1984); phân loại theo thời thể (Cho Minjeong 2001, Nam Seungho 2004, Go Yeonggeun 2007); cấu trúc ngữ nghĩa toàn diện (Woo Hyeongsik 1996, 1998, Hong Jaeseong 1996, Han Songhwa 1998).
  • Hướng ngữ nghĩa - ngữ dụng: Vận dụng lý thuyết của Fillmore, Lyons, Dik, Palmer, Dowty, Jackendoff, Pustejovsky để phân chia động từ thành các nhóm: nói năng, chuyển động, tình thái, tâm lý, tri nhận (Jeong Byeongcheol 2010, Oh Hyunjeong 2009, Lee Kyungsoo 2007, Chang Yeongsook).
  • Các nghiên cứu chuyên biệt về ba tiểu loại tại Hàn Quốc:
    • Động từ nói năng: Hướng cấu trúc câu trích dẫn chứa liên từ -go (Bang Seong Won 2000, Shin Sunkyung 1986, Lee Pilyoung 1993, Ahn Kyunghwa 1995, Chae Sukhee 2011); hướng khái niệm, ngữ nghĩa và cú pháp (Kwon Jaeil 2000, Uem Dooun 2005, Cho Kyungsoon 2009, Chung Joori 1994, Kim Hongsoo 2002, Choi Gyusoo 2010, Chung Yunam 2013).
    • Động từ tình thái: Quan niệm rộng coi toàn bộ kết thúc câu là tình thái (Kim Ilung 1993, Han Dongwan 1996, Cho Ilyeong 1998, Shin Changsun 1997 theo Fillmore 1968); quan niệm hẹp phân biệt tình thái và thức (Jang Kyunghee 1995, Go Yeonggeun 1986, Park Jinho); nghiên cứu vĩ tố tình thái (Park Jaeyeon 2004, Kim Jieun 1998, Ahn Myungcheol 1983, Son Hyunseon 1998); nghiên cứu trợ động từ/động từ tình thái (Lee Pilyeong 1998, Kim Dongok 2000, Kang Soyeong 2002, Park Jaeyeong 2003, Lim Donghoon 2008, Lee Hyeyoung 2003, Moon Byeongyeol 2006, Yeomnyeo 2009); ứng dụng trong sư phạm (Han Songhwa 2000, Lee Yunjin, No Jini, Lee Hyojung, Shin Hyunjung, Lee Seonyeong, Seong Miseon, Kang Hyunju, Lee Haiyoung, Lee Jungran).
    • Động từ chuyển động: Định nghĩa cú pháp - ngữ nghĩa (Cheon Giseok 1983, Hong Jaesung 1989, Jeon Jootae 1992); phân loại kết học - nghĩa học (Kim Eungmo 1993, Yang Jungseok 1995, Hong Gisun 1995, Woo Hyungsik 1990, 1996, Chae Heerak 1999, Song Changseop 2003, Nam Seungho 2000, 2003, Kim Hyereong 2011); đối chiếu ngôn ngữ (Leenam 2009, Seobin 2011); giáo dục tiếng Hàn (Ahn Chanwon 2012, Jeon Eunjin 2012, Kim Hyejin 2012); nghiên cứu động từ gada và oda (Jeong Joori 2005, Go Yeonggeun).
  1. Các nghiên cứu về từ loại và ba tiểu loại động từ tại Việt Nam:
  • Từ loại tiếng Việt: Luận án chia thành ba nhóm quan điểm: nhóm dựa vào ý nghĩa theo ngữ pháp logic truyền thống (Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh 1952, Nguyễn Lân); nhóm dựa vào đặc điểm ngữ pháp và chức vụ cú pháp (Phan Khôi, Lê Văn Lý, Emeneau, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong, Lưu Vân Lăng); nhóm kết hợp từ vựng - ngữ pháp (Nguyễn Kim Thản 1963, Hoàng Tuệ 1962, Đinh Văn Đức 1986, Diệp Quang Ban 2009). Luận án đồng tình với quan điểm của nhóm thứ ba, coi từ loại là phạm trù bản chất ngữ pháp.
  • Động từ nói năng ở Việt Nam: Nhóm dựa vào hình thức ngữ pháp, khả năng kết hợp (Nguyễn Kim Thản 1997, Bùi Minh Toán, Hoàng Văn Thung, Diệp Quang Ban 1998, Đái Xuân Ninh 1978, Hoàng Trọng Phiến 2008, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Anh Quế 1996, Lê Cận, Phan Thiều 1983, Phạm Thị Hòa 2000, Nguyễn Thị Quy 1995); nhóm dựa vào cấu trúc ngữ nghĩa để tách thành tiểu loại riêng (Hoàng Văn Hành 1992, Đỗ Hữu Châu 1993, Nguyễn Vân Phổ 2006, Lê Thị Thơm 2012); nhóm tiếp cận theo ngữ pháp chức năng (Cao Xuân Hạo 1991, Hoàng Văn Vân 2002).
  • Động từ tình thái ở Việt Nam: Các nghiên cứu của Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu (1995), Hoàng Phê (1989), Đái Xuân Ninh (1978), Nguyễn Đức Dân (1987), Lê Đông (1991, 1992), Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2003), Huỳnh Văn Thông (2004), Nguyễn Văn Hiệp (2007), Bùi Trọng Ngoãn (2008), Võ Đại Quang (2009).
  • Động từ chuyển động ở Việt Nam: Các tác giả phân tích vị từ tiếng Việt (Nguyễn Kim Thản 1977, Đinh Văn Đức 2010 với hai quan hệ nghĩa "Đích và Hướng", Nguyễn Thị Quy 1995 với các đặc trưng [+Động], [±Chủ ý], [-tác động], [±mục tiêu], từ 1 đến 3 diễn trị); và các nghiên cứu đối chiếu ngoại ngữ (Nguyễn Thị Chín 2012, Lý Ngọc Toàn và Lê Hương Hoa 2013).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình tại Hàn Quốc chỉ nghiên cứu riêng lẻ từng nhóm động từ hoặc khảo sát thuần túy hình thái - cú pháp, thiếu tính bao quát trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời chưa có công trình nào đối chiếu ba tiểu loại này với tiếng Việt. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về phân định từ loại tiếng Hàn và phân loại động từ tiếng Hàn. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát toàn diện cả ba tiểu loại động từ có tần số cao nhất trong tiếng Hàn trong sự đối chiếu với tiếng Việt dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và khung phân tích sau:

  • Ngữ pháp chức năng (NPCN): Tiếp cận ngôn ngữ theo hướng tích hợp ba bình diện kết học - nghĩa học - dụng học, gắn câu và hiện tượng ngữ pháp với điều kiện giao tiếp hiện thực (theo quan niệm của Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu). Phân tích cấu trúc câu đi từ ngữ nghĩa, chức năng đến hình thức cấu trúc.
  • Lý thuyết vị từ và cấu trúc diễn tố: Khung lý thuyết của L. Tesnière (1959) về vị từ trung tâm và "sàn diễn" cú pháp với các diễn tố (actants), chu tố (circonstants); lý thuyết Ngữ pháp cách (Case Grammar) của C.J. Fillmore (1966, 1968, 1971) với danh sách các vai nghĩa; lý thuyết hình thế cú pháp của Kholodovich (1960).
  • Lý thuyết cấu trúc khái niệm và ngữ nghĩa từ vựng: Mô hình cấu trúc khái niệm của R. Jackendoff (1990, 1992), ngữ nghĩa từ vựng của J. Pustejovsky (1993).
  • Lý thuyết hành động ngôn từ và tình thái: Lý thuyết hành động lời nói của J. Austin (1962) và J. Searle; lý thuyết về phạm trù tình thái của J. Lyons (1977) và F.R. Palmer (1986, 2001) với sự phân biệt giữa Tình thái (modality - phạm trù chức năng ngữ nghĩa rộng) và Thức (mood - phạm trù hình thái cú pháp).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp phân tích - miêu tả ngữ pháp - ngữ nghĩa: Miêu tả đặc trưng thành tố cú pháp, ngữ nghĩa của các động từ thuộc ba tiểu loại; phân tích ngữ cảnh, ngữ trị, cấu trúc vị từ - tham thể và phân tích ngữ dụng.
  • Phương pháp phân tích ngữ liệu song ngữ Việt - Hàn: Khảo sát thực tiễn ngữ liệu song ngữ có cùng nội dung biểu đạt thông tin để làm nổi bật vai trò, chức năng của động từ tiếng Hàn trong thế đối sánh với tiếng Việt.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Vận dụng lý luận và thủ pháp đối chiếu ngôn ngữ của Lê Quang Thiêm (2004), Bùi Mạnh Hùng (2008), Nguyễn Văn Chiến (1992), xác định tiếng Hàn là ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt là ngôn ngữ đích.

Nguồn tư liệu, dữ liệu và công cụ kỹ thuật:

  • Cứ liệu điều tra tần số: Số liệu từ công trình "Điều tra tần số sử dụng tiếng Hàn hiện đại" (Viện ngôn ngữ học Hàn Quốc, 2005).
  • Khối ngữ liệu khảo sát: 13 bộ giáo trình tiếng Hàn từ sơ cấp đến cao cấp của Hàn Quốc; ngữ liệu thực tế từ phim ảnh, tác phẩm văn học, báo chí; các mục từ trong "Từ điển tiếng Hàn chuẩn" (Viện ngôn ngữ quốc gia Hàn Quốc), "Từ điển tiếng Hàn" (ĐH Yonsei, 2010), "Đại từ điển tiếng Hàn" (ĐH Korea).
  • Công cụ kỹ thuật: Sử dụng phần mềm phiên âm từ tiếng Hàn sang ký tự La-tinh do Đại học Ngoại ngữ Busan công bố tại địa chỉ trực tuyến http://roman.kr.

Bảng tổng hợp dữ liệu tần số sử dụng một số động từ và yếu tố tiêu biểu theo điều tra năm 2005 của Viện ngôn ngữ học Hàn Quốc:

Động từ / Yếu tố tiếng Hàn Ý nghĩa tiếng Việt Tiểu loại Số lần xuất hiện Thứ hạng tần số (trên 1.170 từ)
hada làm / thực hiện Động từ thay thế / phổ quát 42.900 3
soo có thể (trong cấu trúc -l suissda) Động từ tình thái / trợ từ tình thái 58.165 33
gada đi Động từ chuyển động 7.747 32
oda đến / về Động từ chuyển động 6.126 39
malhada nói Động từ nói năng 6.738 36
mudda hỏi Động từ nói năng 1.156 327

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Vấn đề phân loại động từ trong tiếng Hàn

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận chung về từ loại và động từ tiếng Hàn. Tác giả phân tích lịch sử phân loại động từ từ ngữ pháp truyền thống châu Âu thế kỷ 17 (dựa trên cấu trúc nòng cốt Chủ từ - Động từ C-V, phân chia nội động và ngoại động) qua ngôn ngữ học cấu trúc luận nửa đầu thế kỷ 20 nhấn mạnh tiêu chí hình thái học, đến các giải pháp phân loại cận chức năng từ cuối thập niên 1950 (L. Tesnière với hóa trị và sàn diễn; Kholodovich với hình thế cú pháp; Fillmore với ngữ pháp cách).

Khảo sát tình hình nghiên cứu từ loại tiếng Hàn, tác giả trình bày tiến trình 3 thời kỳ theo Lee Kwangjeong (2008): tiếp nhận (1900-1930), định hình (1930-1946) và phát triển (1946-1963), với hệ thống từ 5 đến 13 từ loại, trong đó hệ thống 9 từ loại theo ngữ pháp miêu tả là phổ biến nhất. Luận án lựa chọn cách phân chia thành 2 lớp lớn: từ khả biến (biến đổi hình thái khi hoạt động, gồm động từ và tính từ) và từ bất biến, từ đó phân thành 6 nhóm từ lớn (không tính từ trung lập ida).

Chương này phân tích 5 đặc trưng cơ bản của động từ tiếng Hàn:

  1. Đòi hỏi biến đổi dạng thức bắt buộc thông qua hệ thống đuôi từ (vĩ tố - eomi). Thân từ (eogan) mang nghĩa từ vựng không thể đứng độc lập mà phải kết hợp với đuôi từ mới tạo thành từ hoàn chỉnh; giữa thân từ và đuôi từ kết thúc có thể chắp dính một chuỗi các yếu tố ngữ pháp biểu thị kính ngữ, thời thể, phương thức.
  2. Trật tự cú pháp SOV quy định động từ luôn nằm ở cuối mệnh đề hoặc câu, kết thúc bằng đuôi kết thúc câu (jonggyeoleomi) để phân biệt kiểu câu (trần thuật, nghi vấn, cảm thán, mệnh lệnh, khuyên nhủ), cấp độ kính ngữ và thái độ người nói.
  3. Hoạt động cú pháp gắn liền với phương thức phụ gia phái sinh; các phụ tố phái sinh tạo động từ sai khiến (-i-, -hi-, -ri-, -gi-, -u-, -gu-, -chu-) có thể gắn vào nội động từ, ngoại động từ và tính từ, trong khi phụ tố tạo động từ bị động (-i-, -hi-, -ri-, -gi-) chỉ gắn vào ngoại động từ.
  4. Giữ vai trò thành phần chính trong ngữ đoạn, chi phối số lượng tham tố (từ 1 đến 3 thành phần: chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, trạng ngữ/bổ ngữ gián tiếp), đồng thời có khả năng đòi hỏi danh từ bổ ngữ đi kèm bắt buộc tạo thành cụm từ cố định (collocation, ví dụ: jameul jada - ngủ, kkumeul kkuda - mơ).
  5. Phát triển cấu trúc động từ chuỗi (yeonsogdongsa) và động từ bổ trợ (bojoyongeon). Động từ chính và động từ bổ trợ liên kết qua các yếu tố -eo, -go, -ji, -ge để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp về phủ định, bị động, sai khiến, thời thể.

Chương 1 cũng tổng quan các hướng nghiên cứu từ loại tiếng Việt (khẳng định bản chất từ vựng - ngữ pháp theo Đinh Văn Đức) và xác lập quan điểm tiếp cận của luận án: phân loại động từ dựa trên tiêu chí ngữ nghĩa là chủ yếu dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng, tập trung vào ba tiểu loại có tần số cao nhất là động từ nói năng, động từ tình thái và động từ chuyển động.

Chương 2. TIỂU LOẠI ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TIẾNG HÀN

Chương 2 tập trung phân tích tiểu loại động từ nói năng. Luận án định nghĩa động từ nói năng là những động từ dùng để gọi tên hoạt động phát ra thành tiếng bằng lời nói có nghĩa, hoặc là những từ có chức năng làm vị tố phát ngôn trong sự tình phát ngôn.

Về cấu trúc cú pháp, luận án đề xuất cấu trúc tổng quát đầy đủ của câu chứa động từ nói năng tiếng Hàn là: (N0-i/ga) (N2-ege/hante) (N1-go/eul/reul/e-daehae) V Trong đó:

  • N0: chủ ngữ (người phát ngôn / Ngôn thể);
  • N2: đối tượng tiếp nhận phát ngôn mang trợ từ tặng cách -ege hoặc -hante (Tiếp ngôn thể);
  • N1: nội dung phát ngôn (bổ ngữ đối cách -eul/-reul, ngữ trạng thái -e-daehae, hoặc mệnh đề trích dẫn đi với liên từ -go);
  • V: động từ nói năng.

Luận án phân tích chi tiết cơ chế trích dẫn trong tiếng Hàn:

  • Trích dẫn trực tiếp: Thể hiện bằng dấu ngoặc kép " " trong văn tự và kết hợp với đuôi trích dẫn ~(i)rago, thường gặp trong văn viết (tiểu thuyết, báo chí).
  • Trích dẫn gián tiếp: Sử dụng trợ từ trích dẫn ~go gắn sau mệnh đề. Tùy thuộc vào ý nghĩa Thức của câu trích dẫn, đuôi từ biến đổi tương ứng để đồng bộ với động từ nói năng đi sau:
    • Dạng trần thuật: đuôi ~dago (ví dụ đi với malhada - nói);
    • Dạng mệnh lệnh: đuôi ~rago (thường kết hợp với nhóm động từ đề nghị như jeanhada, jeuihada);
    • Dạng khuyên nhủ: đuôi ~jago;
    • Dạng nghi vấn: đuôi ~nyago (kết hợp với nhóm động từ nghi vấn như mudda, jilmunhada, munuihada). Đặc biệt, cấp độ kính ngữ ở đuôi kết thúc mệnh đề trích dẫn gián tiếp bị trung hòa, không phân biệt thứ bậc giao tiếp như trong phát ngôn độc lập.

Chương này phát hiện hiện tượng ưa chuộng sử dụng các động từ thay thế có tính phổ quát trong khẩu ngữ tiếng Hàn: để tránh lặp từ và tạo sắc thái ngữ cảm hàm ẩn, người nói thường thay thế các động từ nói năng cụ thể bằng động từ hada (tần số 42.900, hạng 3), malhada (tần số 6.738, hạng 36) hoặc geureoda. Khi đóng vai trò dẫn nhập lời thoại, động từ hada không biểu thị hành vi phát âm cụ thể mà chỉ giữ chức năng phổ quát thay thế cho động từ nói năng.

Về cấu trúc nghĩa, dựa trên lý thuyết sự tình hành động của Austin (1962), luận án xác lập hệ thống các vai nghĩa tham gia vào cấu trúc sự tình phát ngôn: Ngôn thể (NT), Tiếp ngôn thể (TNT), Đích ngôn thể (ĐNT), Hành động ngôn từ (HĐNT). Dựa trên danh mục bảng được thiết lập trong luận án, tác giả phân loại các tiểu nhóm động từ nói năng theo khả năng kết hợp cú pháp, đặc trưng ngữ nghĩa của bổ ngữ, phân loại theo hành động ngôn ngữ của Austin/Searle, và khảo sát sự kết hợp hạn định với các phó từ tình thái. Cuối chương, tác giả tiến hành miêu tả các động từ nói năng điển hình và đối chiếu cấu trúc, phương tiện biểu hiện của động từ nói năng tiếng Hàn với tiếng Việt.

Chương 3. TIỂU LOẠI ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI TIẾNG HÀN

Chương 3 triển khai nghiên cứu tiểu loại động từ tình thái. Tác giả xác định khái niệm và cương vị ngữ pháp của động từ tình thái (yangtaeyongeon, bojoyongeon), thừa nhận quan điểm rộng của Lyons (1977) và Palmer (1986, 2001), phân biệt rõ giữa Tình thái (modality - phạm trù chức năng - ngữ nghĩa rộng lớn biểu thị thái độ, sự đánh giá của người nói) và Thức (mood - phạm trù hình thái cú pháp).

Về mặt hình thức ngữ pháp, trong khi tiếng Việt biểu hiện tình thái bằng các động từ độc lập (như phải, cần, muốn, có thể, định, toan), động từ tình thái tiếng Hàn chủ yếu hoạt động dưới dạng các tổ hợp ngữ pháp hoặc trợ động từ bổ trợ (bojoyongeon) liên kết với động từ chính qua cấu trúc chuỗi: V1 + eo/go/ji/ge + V2 (ĐTTT) Số liệu khảo sát tần số cho thấy yếu tố tình thái soo (trong cấu trúc khả năng -l suissda - có thể) có tần số xuất hiện rất cao: 58.165 lần, xếp thứ hạng 33 trong điều tra từ vựng tiếng Hàn năm 2005.

Chương này tập trung xác lập:

  • Phạm vi nghiên cứu gồm gần 50 động từ/tổ hợp tình thái tiếng Hàn tương đương với hệ thống động từ tình thái tiếng Việt.
  • Phân loại động từ tình thái dựa theo tiêu chí ngữ nghĩa thành các nhóm: tình thái nhận thức (phỏng đoán, chắc chắn, dường như qua các dạng -geos gatda, moyangida, neunga boda), tình thái đạo nghĩa/nghĩa vụ (bắt buộc, cần thiết, cho phép qua -eoya hada, -do doeda), tình thái năng lực/khả năng (-l suissda, -l 줄 alda/moruda), và tình thái ý chí/nguyện vọng (-go sipda).
  • Khảo sát khả năng kết hợp hạn định của động từ tình thái với các yếu tố khác trong ngữ đoạn (bảng 3.2b), phân tích đặc trưng ý nghĩa (bảng 3.3).
  • Miêu tả chi tiết các động từ tình thái điển hình và tiến hành đối chiếu phạm trù ý nghĩa biểu hiện cũng như phương tiện biểu đạt tình thái giữa tiếng Hàn và tiếng Việt (bảng 3.2 và bảng 3.6), làm rõ sự khác biệt loại hình giữa ngôn ngữ chắp dính biến hình đuôi từ và ngôn ngữ đơn lập dùng hư từ/trợ động từ độc lập.

Chương 4. TIỂU LOẠI ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG HÀN

Chương 4 nghiên cứu tiểu loại động từ chuyển động. Luận án định nghĩa động từ chuyển động là nhóm từ biểu thị sự vận động không gian của chủ thể hoặc đối tượng, được con người thực hiện lặp đi lặp lại thường xuyên nhất trong đời sống.

Cứ liệu khảo sát tần số năm 2005 khẳng định vị trí nổi bật của nhóm này: động từ gada (đi) có tần số 7.747 lần (hạng 32) và oda (đến/về) có tần số 6.126 lần (hạng 39).

Về cương vị ngữ pháp và ngữ nghĩa, dựa trên lý thuyết vị từ và cấu trúc tham tố của C.J. Fillmore (1966), L. Talmy (1985) và Pustejovsky (1993), luận án phân tích các điểm quan yếu của động từ chuyển động tiếng Hàn:

  • Khả năng kết hợp đặc thù với các trạng ngữ chỉ không gian: điểm xuất phát/khởi nguồn (trợ từ -eseo), hướng chuyển động (trợ từ -ro/-euro), và đích đến (trợ từ -e, -kkaji).
  • Xác lập hệ thống các vai nghĩa tham gia vào sự tình chuyển động (bảng 4.2): Thể chuyển động (Theme/Agent), Điểm xuất phát (Source), Đích chuyển động (Goal), Đường đi (Path), Hướng chuyển động (Direction).
  • Phân loại các tiểu lớp động từ chuyển động thường gặp: chuyển động tự thân, chuyển động gây khiến/ngoại động, chuyển động có định hướng không gian, chuyển động mang phương thức.
  • Miêu tả chi tiết hai động từ chuyển động điển hình có tần số cao nhất là gada (đi) và oda (đến), phân tích sự mở rộng ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng khi chuyển hóa thành trợ động từ biểu thị tiến trình thời gian hoặc hướng tiếp cận tâm lý.
  • Đối chiếu với tiếng Việt: So sánh cấu trúc vị từ chuyển động tiếng Hàn với tiếng Việt (vốn mang đặc trưng [+Động], [±Chủ ý], [-tác động], [±mục tiêu], chi phối quan hệ Đích và Hướng theo Đinh Văn Đức và Nguyễn Thị Quy), chỉ ra sự tương đồng về vai nghĩa và sự khác biệt trong phương thức biểu đạt hình thái cú pháp giữa hai ngôn ngữ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề phân loại động từ tiếng Hàn đặt trong sự đối chiếu với tiếng Việt.
  • Kế thừa và vận dụng thành công các nguyên lý của Ngữ pháp chức năng, tiếp cận từ bình diện ngữ nghĩa, chức năng đến hình thức cấu trúc để lý giải bản chất ngữ pháp của từ loại động từ tiếng Hàn.
  • Là công trình đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ Hàn - Việt khảo sát toàn diện cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học đối với 3 tiểu loại động từ có tần số sử dụng cao nhất trong giao tiếp tiếng Hàn (động từ nói năng, động từ tình thái, động từ chuyển động).
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Cung cấp khung cơ sở lý luận và khối ngữ liệu song ngữ thực tế giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập tiếng Hàn như một ngoại ngữ tại Việt Nam, tháo gỡ những lúng túng của người học đối với cấu trúc câu phức tạp và động từ đa trị.
  • Ứng dụng trực tiếp vào công tác dịch thuật hai chiều Hàn - Việt, Việt - Hàn, giúp người dịch nắm bắt chính xác cơ chế chuyển đổi cấu trúc trích dẫn, biểu thức tình thái và định hướng chuyển động.
  • Cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học phục vụ công tác biên soạn từ điển đối chiếu Hàn - Việt và biên soạn giáo trình ngữ pháp tiếng Hàn chuyên sâu.
  • Tạo tiền đề lý luận và phương pháp luận cho các nghiên cứu tiếp theo đối với các tiểu loại động từ còn lại trong tiếng Hàn và tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát vào ba tiểu loại động từ chính danh có tần số xuất hiện cao nhất trong giao tiếp (nói năng, tình thái, chuyển động), chưa bao quát toàn bộ các tiểu nhóm động từ khác của tiếng Hàn.
  • Đối với động từ nói năng, luận án chỉ khảo sát các động từ chính danh đáp ứng đủ 4 tiêu chí định nghĩa, chưa mở rộng nghiên cứu các động từ nói năng không chính danh (các từ chỉ cách thức phát âm, thái độ phát ngôn không chứa nội dung thông tin, hoặc các động từ hành động vật lý được dùng lâm thời trong chức năng nói năng).
  • Căn cứ phân loại chủ yếu dựa vào ngữ liệu mẫu và các công trình điều tra tần số từ vựng sẵn có, chưa tiến hành điều tra thực nghiệm xã hội học ngôn ngữ trên diện rộng đối với toàn bộ người bản ngữ.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tiểu loại động từ khác trong tiếng Hàn và tiếng Việt như động từ tâm lý, động từ tình cảm, động từ tư duy, động từ trao nhận.
  • Tiếp tục đào sâu các hiện tượng mở rộng nghĩa, chuyển di nghĩa theo hướng ngôn ngữ học tri nhận đối với các động từ đa trị.
  • Hướng tới hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về hệ thống từ loại động từ và phân loại động từ giữa hai ngôn ngữ Hàn - Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu ngôn ngữ: Hữu ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, lý thuyết ngữ pháp tiếng Hàn và loại hình học ngôn ngữ (đối chiếu loại hình ngôn ngữ chắp dính SOV và ngôn ngữ đơn lập SVO). Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 với hệ thống tổng quan toàn diện về lịch sử phân loại động từ tiếng Hàn và đặc trưng hình thái - cú pháp của động từ chắp dính.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa phân tích ngữ pháp chức năng, phân tích ngữ nghĩa cú pháp và đối chiếu ngữ liệu song ngữ.
  • Biên dịch viên và người học tiếng Hàn: Giúp người học làm chủ cách sử dụng các tiểu loại động từ có tần số xuất hiện dày đặc trong đời sống. Phần đáng tham khảo là Chương 2 về cơ chế trích dẫn gián tiếp và hiện tượng sử dụng động từ thay thế hada; Chương 3 về các cấu trúc trợ động từ tình thái; và Chương 4 về hệ thống vai nghĩa không gian của động từ chuyển động.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn ba tiểu loại động từ nói năng, tình thái và chuyển động làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm? Tác giả lựa chọn ba tiểu loại này dựa trên số liệu thực tế từ công trình "Điều tra tần số sử dụng tiếng Hàn hiện đại" (Viện ngôn ngữ học Hàn Quốc, 2005). Theo kết quả điều tra, các động từ thuộc ba tiểu loại này đều chiếm thứ hạng tần số xuất hiện cao nhất trong giao tiếp: động từ malhada (nói) xuất hiện 6.738 lần (hạng 36), mudda (hỏi) xuất hiện 1.156 lần (hạng 327); yếu tố tình thái soo (trong -l suissda) xuất hiện 58.165 lần (hạng 33); động từ gada (đi) xuất hiện 7.747 lần (hạng 32) và oda (đến) xuất hiện 6.126 lần (hạng 39). Đây là ba tiểu loại nòng cốt chi phối cấu trúc câu và sự tình trong đời sống thường nhật.

2. Cấu trúc cú pháp cơ bản dạng đầy đủ của câu chứa động từ nói năng tiếng Hàn được luận án xác lập như thế nào? Dựa trên "Từ điển tiếng Hàn chuẩn" của Viện ngôn ngữ quốc gia Hàn Quốc và các nghiên cứu của Kwon Jaeil, Hong Jaesung, Cho Kyungsoon, luận án xác lập cấu trúc cú pháp đầy đủ và bao quát nhất là: (N0-i/ga) (N2-ege/hante) (N1-go/eul/reul/e-daehae) V. Trong đó, N0 là chủ ngữ (người nói), N2 là đối tượng tiếp nhận phát ngôn mang trợ từ tặng cách, N1 là nội dung phát ngôn (đi kèm trợ từ đối cách hoặc trợ từ liên kết trích dẫn -go), và V là động từ nói năng.

3. Đuôi trích dẫn gián tiếp đi cùng động từ nói năng trong tiếng Hàn biến đổi theo quy tắc nào? Trong câu trích dẫn gián tiếp tiếng Hàn, trợ từ trích dẫn ~go được chắp dính vào sau mệnh đề trích dẫn, và hình thái của đuôi từ kết thúc mệnh đề trích dẫn sẽ thay đổi đồng bộ theo ý nghĩa Thức của câu: dạng trần thuật dùng ~dago, dạng mệnh lệnh dùng ~rago, dạng khuyên nhủ dùng ~jago, và dạng nghi vấn dùng ~nyago. Cấp độ lời nói thể hiện sự kính ngữ ở đuôi kết thúc câu trích dẫn mang tính trung hòa.

4. Hiện tượng dùng động từ thay thế cho động từ nói năng trong tiếng Hàn thể hiện đặc trưng gì? Trong tiếng Hàn, để tránh lặp từ và tạo ngữ cảm hàm ẩn, người nói có xu hướng dùng động từ phổ quát hada (tần số 42.900, hạng 3) hoặc malhada (tần số 6.738) và geureoda để thay thế cho các động từ nói năng cụ thể. Trong cấu trúc câu trích dẫn trực tiếp và gián tiếp, động từ hada thay thế cho nhóm malhada mà không làm tách rời cuộc thoại, chỉ giữ vai trò dẫn ngôn chứ không thể hiện chi tiết hành vi phát âm cụ thể.

5. Động từ tình thái tiếng Hàn có điểm gì khác biệt căn bản về hình thái cú pháp so với động từ tình thái tiếng Việt? Trong tiếng Việt, động từ tình thái (như phải, cần, có thể, muốn) là các thực từ độc lập đứng trước động từ vị ngữ chính. Ngược lại, trong tiếng Hàn do đặc trưng loại hình chắp dính, động từ tình thái chủ yếu tồn tại dưới dạng các cấu trúc trợ động từ bổ trợ (bojoyongeon) hoặc tổ hợp ngữ pháp đi kèm đuôi liên kết (V1 + eo/go/ji/ge + V2), đứng sau thân động từ chính để bổ nghĩa tình thái cho toàn bộ phát ngôn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hường là công trình chuyên khảo tiên phong tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về từ loại động từ tiếng Hàn thông qua việc miêu tả, phân loại ba tiểu nhóm có tần số sử dụng cao nhất: động từ nói năng, động từ tình thái và động từ chuyển động. Bằng việc vận dụng nhất quán lý thuyết Ngữ pháp chức năng và phương pháp so sánh - đối chiếu với tiếng Việt, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc cú pháp, đặc trưng ngữ nghĩa và các vai nghĩa sự tình của từng tiểu loại động từ trong mối quan hệ với loại hình ngôn ngữ chắp dính. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở lý luận quan trọng cho ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu mà còn mang lại giá trị thực tiễn thiết thực cho công tác giảng dạy, học tập, dịch thuật và biên soạn từ điển Hàn - Việt.