ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, ô nhiễm môi trƣờng bởi rác thải sinh hoạt (RTSH) đang là vấn đề bức thiết ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo kết quả điều tra của Cục Bảo vệ Môi trƣờng năm 2012, tổng lƣợng phát sinh RTSH ở nƣớc ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tƣơng đối cao (10%/năm) so với các nƣớc phát triển trên thế giới. Tổng lƣợng phát sinh RTSH khoảng 6,5 triệu tấn/năm; dự báo đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Ở nƣớc ta, trung bình mỗi ngày một ngƣời thải ra khoảng 0,5 kg - 0,8 kg rác, trong khi mức chất thải rắn ở các nƣớc đang phát triển trung bình là 0,3 kg/ngƣời/ ngày.
Điều này tạo áp lực lớn về chi phí thu gom, xử lý cũng nhƣ gây ra các vấn đề môi trƣờng nghiêm trọng. Ở Việt Nam, dạng “tài nguyên” đặc biệt này vẫn chƣa thực sự đƣợc quan tâm và tận dụng triệt để. Chúng ta vẫn đang loay hoay trong bài toán là làm thế nào để quyết đƣợc lƣợng RTSH ngày càng tăng. Chỉ một số ít thành phần nhƣ nhựa, kim loại đƣợc tách riêng và tái sử dụng, tái chế; còn lại vẫn đƣợc xử lý bằng các biện pháp thông thƣờng nhƣ chôn lấp hay thiêu đốt.
Trong khi thành phần của RTSH hết sức đa dạng; các hợp chất hữu cơ mà trƣớc hết là cellulose và lignin chiếm tỷ lệ cao nhất, thông thƣờng là 40 – 50%, nhiều trƣờng hợp chiếm đến 70 – 80%. Điều này không những gây lãng phí giá trị của dạng “tài nguyên bị bỏ đi này”, mà còn gây ô nhiễm môi trƣờng. Thách thức đặt ra là làm sao vừa tận dụng đƣợc “giá trị bị lãng quên” của RTSH, góp phần giảm thiểu gánh nặng cho môi trƣờng, vừa đem lại lợi ích kinh tế. Đó là bài toán không dễ để giải quyết.
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ vi sinh vào trong xử lý RTSH là một hƣớng đi mới. Phƣơng pháp này chứng minh đƣợc có nhiều ƣu điểm so với các phƣơng pháp truyền thống, cả về hiệu quả kinh tế lẫn kỹ thuật, tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ dùng trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên việc phân hủy RTSH nói chung và đặc biệt là thành phần cellulose nói riêng trong tự nhiên bởi 1 các vi sinh vật có sẵn diễn ra rất chậm, gây ra nhiều hạn chế nhƣ thời gian phân hủy kéo dài, quá trình phân hủy không triệt để. Do vậy cần nghiên cứu những chủng vi sinh vật thích hợp có khả năng phân giải cellulose, tạo điều kiện thích hợp cho các chủng vi sinh vật phát triển, bổ sung vào bên cạnh những chủng có sẵn để thúc đẩy quá trình phân giải, giúp quá trình xử lý đạt kết quả tốt hơn.
Dựa trên cơ sở lý luận trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn và nấm men có khả năng phân giải cellulose từ nguồn nước rỉ rác tại bãi rác thị trấn Lương Sơn – Hòa Bình”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc rỉ rác 1. Khái niệm nước rỉ rác Nƣớc rỉ rác hay nƣớc rò rỉ trong bãi rác là loại chất lỏng thấm qua các lớp rác của các ô chôn lấp và kéo theo các chất bẩn dạng lơ lửng, keo và tan từ chất thải rắn vào tầng đất ở dƣới đáy bãi chôn lấp (BCL).
Trong giai đoạn hoạt động của BCL, nƣớc rỉ rác hình thành chủ yếu do nƣớc mƣa và nƣớc “ép” ra từ các lỗ rỗng của chất thải do thiết bị đầm nén [12]. Hay nƣớc rỉ rác là 1 loại chất lỏng đƣợc phát sinh từ quá trình phân hủy vi sinh đối với các chất hữu cơ có trong rác, thấm qua các lớp rác của ô chôn lấp và kéo theo các chất bẩn dạng lơ lửng, keo và tan từ các chất thải rắn. Nguồn gốc phát sinh nước rỉ rác Nƣớc rỉ rác đƣợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm một số nguồn sau đây: - Nƣớc sẵn có và tự hình thành khi phân hủy rác hữu cơ trong BCL. - Mực nƣớc ngầm có thể dâng lên vào các ô chôn lấp.
- Nƣớc từ ngoài có thể thấm (rỉ) vào qua thành vách của các ô chôn lấp. - Nƣớc từ các khu vực khác chảy qua và có thể thấm xuống các ô chôn lấp. - Nƣớc mƣa rơi xuống gần khu vực BCL rác sau khi phủ đất và đóng ô chôn lấp rác. Tuy nhiên, nƣớc rỉ rác tại các ô rác chủ yếu đƣợc hình thành do 2 nguồn chính là độ ẩm của rác và quá trình phân hủy sinh học các hợp chất hữu cơ tạo ra nƣớc [4].
Thành phần và tính chất của nước rỉ rác 3 Thành phần và tính chất nƣớc rỉ rác hết sức phức tạp. Để tổng hợp và đặc trƣng hóa thành phần nƣớc rỉ rác là rất khó vì một loạt điều kiện tác động lên sự hình thành nƣớc rỉ rác. Thời gian chôn lấp (tuổi của bãi chôn lấp), thời tiết, khí hậu, các mùa trong năm, độ ẩm của BCL, công nghệ chôn lấp, mức độ pha loãng với nƣớc mặt, nƣớc ngầm và thành phần chất thải rắn, tất cả đều tác động lên thành phần và lƣợng nƣớc rỉ rác sinh ra. Mặt khác, chiều sâu bãi chôn lấp, độ dày, độ nén, và loại của lớp nguyên liệu phủ trên cùng, sự có mặt của các chất ức chế, các chất dinh dƣỡng đa lƣợng và vi lƣợng, việc thiết kế và hoạt động của BCL, việc chôn lấp chất thải rắn, CTNH, bùn từ trạm xử lý nƣớc thải,… cũng tác động lên thành phần của nƣớc rỉ rác.
Thành phần và tính chất nƣớc rỉ rác còn phụ thuộc vào các phản ứng lý, hóa sinh xảy ra trong BCL. Các quá trình sinh hóa xảy ra trong BCL chủ yếu do hoạt động của các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ từ chất thải rắn làm nguồn dinh dƣỡng cho hoạt động của chúng [4]. Trong đa số các trƣờng hợp nƣớc rác bao gồm dịch lỏng tạo thành từ quá trình phân hủy chất thải rắn và thành phần từ bên ngoài thấm vào nhƣ nƣớc mặt, nƣớc mƣa và nƣớc ngầm. Phần dịch lỏng qua các lớp chất rắn dạng bị phân hủy bao gồm tất cả những sản phẩm phân hủy sinh học và hóa học.
Những sản phẩm này bị lôi cuốn bởi dòng nƣớc thấm từ ngoài vào. Song nƣớc rỉ rác gồm 2 thành phần chính đó là các hợp chất hữu cơ và các hợp chất vô cơ. - Các hợp chất hữu cơ: Axit humic, axit fulvic, các hợp chất tananh, các loại hợp chất hữu cơ có nguồn gốc nhân tạo. - Các chất vô cơ: Là các hợp chất của Nito, Phospho, lƣu huỳnh [4].
Tính chất tiêu biểu của nƣớc rỉ rác từ bãi chôn lấp mới và lâu năm đƣợc trình bày ở bảng 1. Đặc tính của nƣớc rỉ rác tại các BCL mới và lâu năm Bãi mới (dƣới 2 năm) Bãi lâu năm Thành phần Đơn vị Khoảng Trung bình (trên 10 năm) BOD5 mg/l 2000 - 20000 10000 100 – 200 TOC mg/l 1500 - 20000 6000 80 – 160 COD mg/l 3000 - 60000 18000 100 – 500 Chất rắn hòa tan mg/l 10000 - 55000 10000 1200 TSS mg/l 200 - 2000 500 100 – 400 Nito hữu cơ mg/l 10 - 800 200 80 – 120 Ammoniac mg/l 10 - 800 200 20 – 40 Nitrate mg/l 5 - 40 25 5 – 10 Tổng lƣợng P mg/l 5 - 100 30 5 – 10 Ortho phospho mg/l 4 - 80 20 4–8 Độ kiềm theo 1000 - 10000 3000 200 – 1000 CaCO3 pH mg/l 4,5 – 7,5 6,0 6,6 – 7,5 Canxi mg/l 50 - 1500 250 50 – 200 Magie mg/l 50 - 1500 250 50 - 200 Chlorua mg/l 200 - 3000 500 100 – 400 Tổng lƣợng sắt mg/l 50 - 1200 60 20 – 200 Sulfate mg/l 50 - 1000 300 20 – 50 (Nguồn: Intergrated Soid Waste Management) Từ bảng 1.1 có thể thấy rằng tính chất của nƣớc rỉ rác với những BCL có thời gian hoạt động khác nhau là khác nhau. BCL mới có nồng độ các chất hữu cơ nhƣ BOD5, COD, TOC,…trong nƣớc rỉ rác đều ở mức cao hơn vài trăm lần so với BCL lâu năm. Điều này đƣợc lý giải là do trong lòng BCL cũng chính là cỗ máy phân hủy sinh học.
Sự phân bố và cấu trúc của cellulose trong tự nhiên 1. Sự phân bố của cellulose trong tự nhiên Cellulose là thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật, là sản phẩm sơ cấp của quá trình quang hợp và cũng là nguồn nguyên liệu tái tạo lớn nhất trên Trái Đất. Thông thƣờng cellulose của tế bào thực vật chiếm 50% tổng số carbohydrate có trên Trái Đất. Hàng năm có khoảng từ 60 đến 90 tỷ tấn 5 cellulose đƣợc các loài thực vật tạo ra.
Hàng ngày, hàng giờ, một lƣợng lớn cellulose đƣợc tích lũy lại trong đất do các sản phẩm tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết đi, cành lá rụng xuống. Một phần không nhỏ do con ngƣời thải ra dƣới dạng rác thải, giấy vụn, phoi bào, mùn cƣa,… Ở cấp độ sinh quyển, hàng tỷ tấn cellulose đƣợc tạo ra mỗi năm cần phải đƣợc phân hủy, nếu không có quá trình phân giải của vi sinh vật thì lƣợng chất hữu cơ khổng lồ này sẽ ngập tràn Trái Đất và gây nguy hiểm cho hệ sinh thái [16]. Cellulose có trong gốc và sợi của các loại thực vật, có nhiều trong sợi bông (95 – 98% trọng lƣợng khô), sợi lanh (71%), đay, gai, tre, nứa (50 – 80%), ở các loại cây gỗ nói chung cellulose chiếm tới 40 – 50% (trong gỗ cây lá kim, cellulose chiếm khoảng 41 – 49%, trong gỗ cây lá rộng chiếm 43 – 52%. Ngoài ra cellulose còn có trong gỗ, thực vật dƣới nƣớc (tảo, rong,…), sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, lõi ngô,…) [5,10].
Dƣới dạng phế thải, cellulose có trong các phế liệu nông nghiệp chăn nuôi, công nghiệp, đồ hộp, công nghiệp chế biến gỗ (các loại sợi thiên nhiên chế từ bông, gỗ, gai, lanh, đay đều là cellulose đƣợc dùng trong kỹ nghệ dệt, giấy), trong chất thải sinh hoạt,…[2, 6,10,15]. Hàm lƣợng cellulose có trong một số nguyên liệu Nguyên liệu Cellulose (%) Nguyên liệu Cellulose (%) Kiều mạch 42.0 Vỏ đậu tƣơng 51.0 Cây trƣởng thành 42. Cấu trúc của cellulose Cellulose làm cho các mô thực vật có tính bền cơ học, có tính đàn hồi và tạo thành bộ xƣơng nâng đỡ các loài cây. Ngƣời ta nhận thấy rằng trong thiên nhiên hầu nhƣ không gặp cellulose ở dạng tinh khiết mà nó thƣờng tồn tại ở dạng kết hợp với những chất khác nhƣ hemicellulose, lignin, pectin,…các chất này liên kết với nhau tạo thành phức hợp bền vững, cấu trúc lên màng tế bào thực vật và có tên gọi chung là ligno – cellulose.