Khảo sát sự khác biệt giữa ung thư tế bào thận và u phồng bào trên cắt lớp vi tính

Tài liệu nghiên cứu Khảo sát sự khác biệt giữa ung thư tế bào thận và u phồng bào trên cắt lớp vi tính, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

X Quang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn chuyên khoa cấp II

2023

124
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm cấu trúc trên CT của ung thư tế bào thận và u phồng bào

Ung thư tế bào thận (UTTBT) và u phồng bào là hai u t良性 thận khác nhau có những đặc điểm cấu trúc riêng biệt trên cắt lớp vi tính (CT). Ung thư tế bào thận thường biểu hiện dưới dạng khối u đơn độc, không đều, có xu hướng xâm lấn mô xung quanh. Khối u có ranh giới không rõ ràng, cấu trúc không đồng nhất với các vùng hoại tử, chảy máu bên trong. Ngược lại, u phồng bào thường có hình dạng tròn hoặc bán nguyệt, ranh giới rõ ràng, cấu trúc đồng nhất, không có dấu hiệu xâm lấn. Trên hình ảnh CT, u phồng bào thường hiện lên như một khối u nhỏ gọn, bên trong đồng nhất, không có các yếu tố hoại tử hay chảy máu. Sự khác biệt này là cơ sở quan trọng giúp các bác sĩ chẩn đoán và phân biệt hai bệnh lý này.

1.1. Đặc điểm cấu trúc của ung thư tế bào thận

Ung thư tế bào thận thường xuất hiện với cấu trúc không đồng nhất, ranh giới mờ nhạt. Khối u có xu hướng phát triển không đều, với sự hiện diện của các vùng hoại tử trung tâm, chảy máu, hay xơ hóa. Các đặc điểm này phản ánh tính chất ác tính và sự phát triển nhanh chóng của종양. Trên CT, các vùng này sẽ cho tín hiệu khác nhau, tạo thành một bức tranh cắt lớp không đồng nhất, giúp phân biệt với các u lành tính khác.

1.2. Đặc điểm cấu trúc của u phồng bào

U phồng bào có đặc điểm cấu trúc đồng nhất, ranh giới sắc nét, không có dấu hiệu hoại tử hay chảy máu. Đây là u lành tính, phát triển chậm, không xâm lấn mô xung quanh. Trên hình ảnh CT, u phồng bào hiện lên như một khối tròn gọn, màu sắc đồng nhất, không có biến đổi bất thường bên trong, giúp dễ dàng phân biệt với ung thư tế bào thận.

II. Đặc điểm tín hiệu bắt thuốc trên CT

Khi sử dụng chất cản quang trong quá trình chụp CT cắt lớp, ung thư tế bào thậnu phồng bào có những kiểu bắt thuốc khác nhau. Ung thư tế bào thận thường cho kiểu bắt thuốc không đồng nhất, bắt thuốc mạnh ở giai đoạn động mạch (arterial phase), nhưng mất tín hiệu nhanh ở giai đoạn tĩnh mạch (venous phase). Điều này phản ánh vascular của khối u ác tính. Ngược lại, u phồng bào thường cho kiểu bắt thuốc đồng nhất hoặc bắt thuốc nhẹ, ổn định hơn qua các giai đoạn. Sự khác biệt này trong độ bắt thuốc giữa hai loại u là tiêu chí quan trọng trong chẩn đoán phân biệt, giúp cải thiện độ chính xác của việc chẩn đoán hình ảnh.

2.1. Kiểu bắt thuốc của ung thư tế bào thận

Ung thư tế bào thận bắt thuốc mạnh và không đồng nhất trong giai đoạn động mạch, thể hiện tính vascularize cao. Tuy nhiên, trong giai đoạn muộn, tín hiệu giảm đi nhanh chóng (wash-out hiện tượng), tạo nên sự khác biệt rõ rệt so với phần vỏ thận bình thường. Kiểu bắt thuốc này cho phép các nhà chuyên khoa X quang định lượng độ bắt thuốc và đưa ra kết luận chẩn đoán chính xác.

2.2. Kiểu bắt thuốc của u phồng bào

U phồng bào thường bắt thuốc đồng nhất, với mức độ bắt thuốc ổn định qua các giai đoạn. Độ bắt thuốc thường nhẹ hơn ung thư tế bào thận, và không có hiện tượng wash-out nhanh. Tín hiệu bắt thuốc ổn định này phản ánh bản chất lành tính của u, giúp phân biệt rõ ràng với các종양ác tính.

III. Các yếu tố xâm lấn và mở rộng

Ung thư tế bào thận có xu hướng xâm lấn vào các cấu trúc xung quanh bao gồm mô mỡ quanh thận, cân Gerota, và thậm chí tuyến thượng thận. Sự xâm lấn này là dấu hiệu quan trọng của ác tính và ảnh hưởng đến giai đoạn bệnh. Các u thận lớn có thể xâm lấn vào tĩnh mạch thậntĩnh mạch chủ dưới, tạo thành huyết khối khối u (tumor thrombus), một biến chứng nguy hiểm. U phồng bào, là u lành tính, không có khả năng xâm lấn mô xung quanh. Ranh giới của u rõ ràng, được bao quanh bởi một lớp mô liên kết hoàn toàn, không có dấu hiệu xâm lấn vào mô mỡ hoặc các cấu trúc lân cận. Sự khác biệt này trong đặc điểm xâm lấn là tiêu chí chính để phân biệt lành tính và ác tính.

3.1. Xâm lấn và tính chất ác tính

Ung thư tế bào thận thường xâm lấn mô mỡ quanh thận, xâm phá cân Gerota (lớp mô liên kết bao quanh thận). Trong các trường hợp nặng, u có thể xâm lấn tuyến thượng thận, tạo nên ảnh hưởng toàn bộ đến cơ quan lân cận. Các dấu hiệu xâm lấn này cho thấy bệnh ở giai đoạn nâng cao, yêu cầu điều trị tích cực.

3.2. Ranh giới và tính chất lành tính

U phồng bào có ranh giới sắc nét, không xâm lấn mô mỡ xung quanh hay các tuyến lân cận. Cấu trúc u được giữ nguyên bên trong một vỏ bảo vệ rõ ràng, không gây ảnh hưởng đến các cơ quan xung quanh, phản ánh tính chất lành tính hoàn toàn.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong chẩn đoán lâm sàng

Sự phân biệt ung thư tế bào thận và u phồng bào trên cắt lớp vi tính có ý nghĩa lâm sàng rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn phương pháp điều trị. Các bác sĩ X quang dựa vào các đặc điểm hình ảnh như cấu trúc u, kiểu bắt thuốc, sẹo trung tâm, vôi hóa, và mức độ xâm lấn để đưa ra chẩn đoán chính xác. Với ung thư tế bào thận, bệnh nhân thường cần phẫu thuật loại bỏ khối u, hoặc các phương pháp điều trị can thiệp khác. Ngược lại, u phồng bào lành tính thường chỉ cần theo dõi định kỳ mà không nhất thiết phải điều trị ngay. Việc chẩn đoán chính xác giúp tránh can thiệp không cần thiết, giảm chi phí và bảo vệ chức năng thận của bệnh nhân. Do đó, kỹ năng đọc hình ảnh CT của các chuyên gia X quang là then chốt trong việc cung cấp các thông tin chẩn đoán chính xác cho các bác sĩ lâm sàng.

4.1. Quy trình chẩn đoán và vai trò của hình ảnh CT

Quá trình chẩn đoán phân biệt bắt đầu từ việc phân tích chi tiết các đặc điểm hình ảnh CT cắt lớp theo các tiêu chí đã nêu. Các nhà chuyên khoa X quang sử dụng phương pháp ROI (Region Of Interest) để đo lường đậm độ tín hiệu của u và so sánh với vỏ thận, từ đó tính toán tỉ lệ đậm độđộ bắt thuốc. Những số liệu này cung cấp căn cứ định lượng cho chẩn đoán chính xác.

4.2. Hướng dẫn điều trị dựa vào chẩn đoán

Khi ung thư tế bào thận được xác định, bệnh nhân cần được đánh giá giai đoạn bệnh theo hệ thống TNMphân loại AJCC để quyết định phương pháp điều trị tối ưu. Ngược lại, u phồng bào lành tính có thể theo dõi định kỳ, tránh can thiệp không cần thiết, bảo vệ chức năng thận cho bệnh nhân lâu dài.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ung thư tế bào thận (UTTBT) là khối u xuất phát từ chủ mô thận đã trưởng thành, là khối u thận ác tính phổ biến nhất, chiếm đến 80 - 90% các trường hợp ung thư thận.1,2 Ngược lại, u phồng bào là khối u đặc, lành tính, chiếm 3 – 5% trong tất cả các khối u thận, là u lành thường gặp thứ hai sau u mạch cơ mỡ ở thận. Không giống như UTTBT, u phồng bào không có xu hướng xâm lấn tĩnh mạch, tỉ lệ tái phát rất hiếm và di căn xa rất thấp.3,4 Bên cạnh đó, UTTBT và u phồng bào đều có những đặc điểm hình ảnh chồng lấp nhau như dạng đặc, sẹo trung tâm, bắt thuốc mạnh thì động mạch.5,6 Năm 1969, tác giả Robson và cộng sự7 đã đưa kĩ thuật cắt thận tận gốc để điều trị UTTBT là “tiêu chuẩn vàng”. Nhược điểm chính của phương pháp này là tăng nguy cơ bệnh nhận mạn, liên quan đến biến cố tim mạch nghiêm trọng và tăng tỉ lệ tử vong8 nên phương pháp này không còn được sử dụng đối với các u thận nhỏ.9 Nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, kinh nghiệm phẫu thuật, cải tiến dụng cụ, hoàn thiện phương pháp mổ làm gia tăng tỉ lệ phát hiện u thận giai đoạn T1, gia tăng chỉ định phẫu thuật cắt một phần thận.10 Phẫu thuật cắt một phần thận hiện nay là tiêu chuẩn điều trị các u thận giai đoạn T1 (đặc biệt là T1a),9 với kết quả về mặt ung thư học tương đương phẫu thuật cắt thận toàn phần và giảm nguy cơ bệnh thận mạn so với cắt thận toàn phần (20% so với 65%).11 Do u phồng bào có tỉ lệ mắc thấp và không được chẩn đoán chắc chắn trước phẫu thuật nên bệnh nhân có xu hướng được điều trị quá mức, mặc dù về lâu dài thì đây là khối u có tiên lượng rất tốt.6,12 Hơn nữa, các nghiên cứu đã báo cáo rằng chỉ riêng việc giám sát cũng có thể là phương pháp điều trị. 2 đầy đủ đối với u phồng bào nhỏ.

Phẫu thuật cắt bán phần thận để bảo tồn chức năng thận có thể được sử dụng cho khối u lớn hơn.5,6 Như vậy, UTTBT và u phồng bào có nhiều đặc điểm hình ảnh tương đồng nhau nhưng lại có hướng điều trị và tiên lượng hoàn toàn khác nhau nên việc chẩn đoán chính xác bản chất khối u đặc ở thận trước khi quyết định điều trị có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt khi bệnh nhân có thương tổn của thận đối bên.13,14 Trong các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thì chụp cắt lớp vi tính (CLVT) được xem là phương tiện hữu ích cung cấp nhiều thông tin để đánh giá các đặc điểm hình ảnh, để từ đó phân biệt được 2 loại u này. Trên thế giới, từ lâu đã có nhiều nghiên cứu cho thấy một số đặc điểm hình ảnh CLVT có giá trị phân biệt hai loại u này, tuy nhiên cũng có sự chồng lấp đáng kể như đậm độ, kiểu vôi hóa, sẹo trung tâm, kiểu bắt thuốc.5,15,16 Những nghiên cứu gần đây thì chủ yếu tập trung phân tích các đặc điểm bắt thuốc của u bằng các mô hình khác nhau như độ bắt thuốc, tỉ số đậm độ của u so với vỏ thận hay so với đậm độ động mạch chủ tương ứng trong các thì sau tiêm thuốc cũng cho những kết quả khá khả quan.17-19 Ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu các đặc điểm hình ảnh để phân biệt hai loại u kể trên. Vậy liệu các đặc điểm hình ảnh trên CLVT có thể giúp chẩn đoán phân biệt hai loại u này? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khảo sát sự khác biệt giữa ung thư tế bào thận và u phồng bào trên cắt lớp vi tính” với mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT của ung thư tế bào thận và u phồng bào 2.

Khảo sát giá trị các dấu hiệu hình ảnh giúp chẩn đoán phân biệt ung thư tế bào thận và u phồng bào. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu học hình thể bình thường của thận 1. Vị trí và hình thể ngoài Thận là một cơ quan chẵn, có vai trò quan trọng trong việc duy trì nước, điện giải trong cơ thể và thải một số chất độc ra ngoài qua sự thành lập và bài xuất nước tiểu.

Ngoài ra, thận còn có vai trò nội tiết để điều hòa huyết áp, chuyển hóa canxi và tạo hồng cầu.20 Thận có dạng hình hạt đậu, màu nâu đỏ, bề mặt trơn láng, nhờ được bao bọc trong một bao xơ. Mỗi thận có hai mặt (mặt trước lồi và mặt sau thì phẳng hơn), có hai cực (trên và dưới) và hai bờ (bờ ngoài lồi còn bờ trong thì lồi ở hai đầu, lõm ở giữa gọi là rốn thận); rốn thận là nơi có các mạch máu và thần kinh đi vào và đi ra khỏi thận.20 Thận là tạng nằm sau phúc mạc, hai bên cột sống thắt lưng, trong góc hợp bởi xương sườn thứ XII và cột sống thắt lưng, ngay phía trước cơ thắt lưng. Trục lớn của thận chạy chếch từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và từ trước ra sau. Thận có chiều cao khoảng 12 cm, rộng 6 cm và dày 3 cm, cân nặng khoảng 150 gram.

Thận phải thấp hơn thận trái khoảng gần 2 cm. Hình thể trong của thận Trên thiết đồ đứng ngang qua thận ta thấy ở giữa là xoang thận. Bao quanh xoang thận là khối nhu mô thận hình bán nguyệt. Nhu mô thận có hai vùng là tủy thận và vỏ thận.

Vùng tủy thận nằm bên trong, do các tháp thận có dạng hình nón tạo nên. Đỉnh các tháp thận hợp lại thành các nhú thận. Vùng vỏ thận là phần còn lại của nhu mô, là phần nằm. 4 giữa các tháp thận, bao gồm các cột thận và các tiểu thùy vỏ.

Trên tiểu thùy vỏ còn chia thành hai phần là phần tia và phần lượn. Hình thể ngoài của thận 1. Tuyến thượng thận 2. Động mạch thận 4.

Tĩnh mạch thận 5.H, 2019”21 Xoang thận mở ra phía trong là một khe hẹp gọi là rốn thận để các thành phần trong cuống thận đi qua. Thành phần của cuống thận nằm trong xoang thận bao gồm hệ thống đài bể thận, các mạch máu và thần kinh thận, phần còn lại của xoang thận được lấp đầy bởi các tổ chức mỡ. Hình cắt ngang cho thấy cấu trúc chủ mô và bể thận “Nguồn: Netter F.H, 2019”21 Trong xoang thận gồm 9 - 12 đài thận nhỏ hợp lại với nhau tạo nên 2 - 3 đài thận lớn. Các đài lớn nằm trên mặt phẳng vành của thận, cùng mặt phẳng với bể thận.

Theo Nguyễn Ngọc Ánh và cộng sự22 nghiên cứu trên 200 thận cho thấy bể thận có 2 đài lớn (trên và dưới) chiếm 40,5%; có 2 đài lớn không điển hình chiếm 29,0%; có 3 đài lớn (trên, giữa và dưới) chiếm 30,5%, không có trường hợp nào không có đài thận lớn hoặc có 4 đài lớn. Tổng quan u thận Các trường hợp u ở chủ mô thận phần lớn là u ác tính. Các u đặc lành tính thường ít gặp và khó chẩn đoán phân biệt với u ác. Có 2 loại u lành có thể chẩn đoán định hướng là: u cơ quan cạnh cầu thận gây tăng huyết áp hay u mạch cơ mỡ.

Một số loại u khác như u tuyến vỏ thận hay u phồng bào cũng khó phân biệt với u ác.23 Trong đó, u phồng bào là nhóm u lành tính thường gặp thứ 2 sau u mạch cơ mỡ, chiếm khoảng 3 - 5% các u thận nói chung. 6 Như vậy, các u đặc ở chủ mô thận còn lại phải được coi là ác tính, gồm có hai loại: u xuất phát từ chủ mô thận đã trưởng thành, thường gặp ở người lớn còn gọi là ung thư tế bào thận. U xuất phát từ chủ mô thận chưa trưởng thành, thường gặp ở trẻ nhỏ và nhũ nhi còn được gọi là u Wilms. Loại ung thư tế bào thận này chiếm 3% ung thư ở người lớn và chiếm 85 - 90% u ác tính tại thận.

Ngoài ra, các u ác tính ít gặp hơn nhiều bao gồm sarcôm thận (cơ trơn, mỡ, cơ vân…), u lymphô thận nguyên phát. Đặc điểm ung thư tế bào thận Ung thư tế bào thận chiếm 80 - 90% ung thư thận. Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ với tỉ lệ là 1,5 – 2/1. Đây là bệnh lý xuất hiện ở người già trong độ tuổi 60 – 70.24 UTTBT được phát hiện tình cờ chiếm 50% các trường hợp ở các nước phương Tây, những u này thường khu trú trong thận và tiên lượng tốt.

Nguyên nhân của ung thư tế bào thận Nguyên nhân của UTTBT đến nay vẫn chưa rõ. Các yếu tố sau được xem là nguy cơ của UTTBT23: -Tiếp xúc với asbestos, dung môi, cadmium cũng liên quan với tăng khả năng phát triển ung thư ở một số báo cáo nhưng lại không được chứng minh trên các báo cáo khác. Hút thuốc là yếu tố được chứng minh trên những nghiên cứu bệnh chứng và đoàn hệ là làm tăng ít nhất gấp 1,4 – 2,5 lần khả năng phát triển UTTBT so với người không hút thuốc theo Moyad, 2001,26 Rossi, S.27 -Có mối quan hệ dương tính giữa tần suất ung thư thận với béo phì và tăng huyết áp. -Bệnh nhân lọc máu hoặc thẩm phân phúc mạc cũng có nguy cơ cao.

7 Với UTTBT dạng di truyền: gen tác động là gen trội. Hai hội chứng di truyền đã được mô tả là von Hippel - Lindau và UTTBT dạng nhú di truyền. Von Hippel - Lindau là một hội chứng ung thư gia đình làm tăng khả năng xuất hiện khối u ở nhiều cơ quan trong đó có UTTBT. UTTBT dạng nhú di truyền được mô tả năm 1994 với đặc điểm là xuất hiện khối u ở cả hai bên.28 Những bệnh nhân có tình trạng ure huyết cao như bệnh suy thận mạn phải điều trị lọc thận sẽ tăng 30 lần khả năng phát triển nang thận so với người thường theo báo cáo Reichard và cộng sự, 1998.29 UTTBT được báo cáo xuất hiện khoảng 3 - 9% ở những trường hợp có nang thận theo nghiên cứu của Gulanikar và cộng sự, 1998.30 Tần suất phát sinh UTTBT ở hai bên thận phải và trái là bằng nhau và được phân bố ngang bằng nhau ở khắp mỗi thận.

UTTBT dạng nang xuất hiện trong khoảng 10 - 25% UTTBT và có tiên lượng tốt hơn so với u đặc.1,31 Vôi hóa có thể dạng nốt hoặc thành vùng chiếm tỉ lệ 10 - 20 các trường hợp. Các triệu chứng lâm sàng, sinh hóa của UTTBT Các triệu chứng của lâm sàng kinh điển của UTTBT như tiểu máu, đau hông lưng và sờ thấy khối u vùng lưng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ