Nữ quyền trong sáng tác của nhà văn DTTS miền núi phía Bắc - Luận văn Dương Thị Thúy Hằng

Luận văn khám phá nữ quyền trong sáng tác của nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đi sâu vào nội dung và nghệ thuật thể hiện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC

1.1. Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

1.1.1. Lịch sử hình thành, phát triển

1.1.2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật

1.2. Giới thuyết về nữ quyền trong văn học

1.2.1. Khái niệm nữ quyền

1.2.2. Mạch nguồn cảm hứng về nữ quyền trong văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

1.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. Chương 2: VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG

2.1. Nữ quyền trong cuộc chiến chống lại những hủ tục lạc hậu

2.2. Nữ quyền trong khát khao hạnh phúc đời thường

2.3. Nữ quyền trong bản năng tính dục

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. Chương 3: VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ

3.1.1. Xây dựng nhân vật qua ngoại hình và hành động

3.1.2. Xây dựng nhân vật qua đời sống nội tâm

3.2. Sử dụng ngôn ngữ giàu tính nữ

3.2.1. Ngôn ngữ giản dị, thông tục

3.2.2. Ngôn ngữ thẳng thắn, quyết liệt

3.2.3. Vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ và lối ví von, so sánh

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nữ quyền trong Văn học DTTS Miền Bắc 55 60

Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam, mang trong mình những giá trị nhân văn sâu sắc. Trong đó, văn xuôi chiếm một vị trí đặc biệt, làm nên những nét độc đáo và riêng biệt. Văn xuôi miền núi phía Bắc, với sự đa dạng của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mường, H'Mông..., tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú, giàu bản sắc. Các nhà văn như Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Bùi Thị Như Lan..., đã có những tìm tòi, khám phá mới mẻ về hình tượng người phụ nữ miền núi trong đời sống đương đại, thể hiện sự xót xa, thương cảm và ngợi ca. Vấn đề nữ quyền trong văn học DTTS miền núi phía Bắc là một xu hướng quan trọng, phản ánh sự quan tâm của xã hội đến quyền bình đẳng của phụ nữ. Văn học đã góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và vị thế của phụ nữ trong cộng đồng, đồng thời lên án những hủ tục và bất công mà họ phải đối mặt. Các nhà văn đã khắc họa chân dung người phụ nữ miền núi với những khát vọng về tự do, hạnh phúc và bình đẳng, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Vấn đề nữ quyền là đề tài có ý nghĩa sâu sắc, có sức lôi cuốn đặc biệt và cũng rất thiết thực với bản thân vì sự yêu thích và muốn khám phá về người phụ nữ dân tộc thiểu số. Hi vọng đề tài thành công sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người muốn tìm hiểu về văn xuôi miền núi nói chung và vấn đề nữ quyền trong văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng.

1.1. Nguồn gốc và sự hình thành của văn học nữ quyền ở VN

Vấn đề nữ quyền được manh nha trong lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, nhưng phải từ năm 1986 trở đi, âm hưởng nữ quyền trong văn học mới thực sự được chú ý. Sự xuất hiện mạnh mẽ của các tác giả nữ từ sau năm 1975 đã đặt ra những câu hỏi về lối viết văn đặc trưng của phụ nữ. Các nghiên cứu đã tập trung vào việc khám phá diện mạo của hình tượng nhân vật nữ và khái quát những nét cơ bản về âm hưởng nữ quyền trong văn học. Nhiều chuyên đề liên quan đến phái tính trong văn học đã được thảo luận, đặc biệt là ở nước ngoài, nơi có sự tiếp xúc với chủ thuyết nữ quyền. Các chuyên đề này đã mở ra nhiều khám phá về tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học. Nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cho thấy sự phát triển nhận thức về vấn đề này và sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động xã hội, phong trào đòi quyền bình đẳng.

1.2. Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong văn học Việt Nam

Qua tìm hiểu bước đầu, các nhà văn dân tộc thiểu số luôn muốn hướng tới sự công bằng, bình đẳng cho nữ giới, xóa bỏ định kiến vô thức hay những khuôn phép giáo điều xưa cũ áp đặt cho người phụ nữ trong các sáng tác văn xuôi dân tộc miền núi. Đã có một số công trình mang tính tập hợp, tuyển chọn và giới thiệu về văn học dân tộc thiểu số trong đó có đưa vào hình ảnh người phụ nữ dân tộc như: Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số (Nxb văn hóa, 1995); Tuyển tập văn học và miền núi (Nxb Giáo dục, 2007); Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1985 (Nxb Văn hóa, 1981)… Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu, đánh giá về văn học dân tộc thiểu số trong đó có hình tượng người phụ nữ dân tộc như: Một vườn hoa nhiều hương sắc (Nxb Văn hóa, 1997); 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1985) (Nxb Văn hóa, 1985); Văn hóa các dân tộc -từ một diễn đàn (1999) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam truyền thống và hiện đại (Nxb Đại học Thái Nguyên); Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam ( Nxb Đại học Thái Nguyên); Nửa thế kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam(từ 1960 đến nay) (Nxb Hội nhà văn)…

II. Các Hủ tục và Áp bức Thách thức Nữ quyền DTTS Miền Bắc 50 60

Sinh sống ở vùng núi cao, điều kiện địa lý khó khăn, ngoài sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân họ còn là những nạn nhân của sự lạc hậu, u mê. Trên những bản làng là cảnh địa ngục tăm tối, ở đâu cũng thấp thoáng bóng ma khiến họ sợ hãi: thần linh, ma trời, ma đất, ma gà, ma rừng… người dân bị tước đoạt tự do, bị đầu độc về tinh thần…Và có lẽ cho đến bây giờ, chịu nhiều đau khổ nhất là những người phụ nữ. Hủ tục bắt nguồn từ đời sống tinh thần của con người, tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử, là những phong tục tập quán đã lỗi thời, lạc hậu, là những thói hư, tật xấu làm cho xã hội bị trì trệ, kém phát triển. Những hủ tục trở thành vật cản, là gánh nặng từ đời này qua đời khác đối với các cộng đồng người, nhất là người DTTS. Các tác giả DTTS năm bắt được điều đó và nhanh chóng đưa vào tác phẩm của mình, họ lên tiếng bảo vệ phụ nữ. Trong xã hội phong kiến miền núi xuất hiện rất nhiều những cuộc hôn nhân gượng ép trong đó nạn nhân chính là những người phụ nữ bé nhỏ, bất hạnh. Họ không có quyền định đoạt và lựa chọn tình yêu cho riêng mình. Bởi vậy, không hiếm những tác phẩm đề cập đến sự mâu thuẫn giữa hôn nhân và tình yêu.Viết về hủ tục ép duyên hay rẽ duyên đôi lứa trong xã hội miền núi, ngòi bút của các nhà văn DTTS đã khám phá, phát hiện để từ đó có được những trang văn sống động và chân thực về hiện thực này. Một nét chung dễ nhận thấy đó là các nhân vật nữ, bằng cách này hay cách khác và dù có phải chết cũng dũng cảm đứng lên chống lại hủ tục.

2.1. Hủ tục Ma gà và ảnh hưởng đến cuộc sống của phụ nữ

Trong Vãi Đàng, người đọc có thể thấy được nhân vật Đàng là một chân dung tiêu biểu của người phụ nữ Việt Bắc, là nạn nhân của hủ tục, của mê tín với những nỗi khổ chồng chất. Đàng là một cô gái người dân tộc Tày, xinh đẹp, gia đình vốn giàu có nhất Tổng Rì, nhưng vì bố Đàng nghiện thuốc phiện nên của cải trong nhà đội nón ra đi. Lợi dụng hoàn cảnh đó của cô, phó chánh tổng Vọi ép cô về làm vợ bé nhưng cô không chịu. Đàng bị nhà tổng Vọi vu cho là có ma gà:“Thời ấy những người bị nghi là có ma gà bị mọi người xa lánh, hắt hủi. Con trai thì ế vợ, con gái ế chồng không ai dám lấy”. Bị mọi người xa lánh, Đàng đau khổ, những khóc mãi cũng không thể thoát ra khỏi bi kịch, Đàng phải bỏ quê ra đi, Đàng tự nhủ: “Ta phải sống, sống ở quê hương không được thì ta đi…đến bao giờ không thể sống, không nẻo sống thì chết!” . Bằng nghị lực và niềm tin vào tương lai thể hiện sức sống mạnh mẽ của Đàng, cô quyết chống lại hủ tục lạc hậu đã giết chết bao cuộc đời người con gái miền núi.

2.2. Hôn nhân ép buộc và tước đoạt quyền tự do yêu đương

Lăng Thị Thu Lả (Lòng dạ đàn bà) dám chống lại hủ tục ép duyên, trốn về với người yêu. Lả bị gia đình ép gả cho Tu: “Ngày cưới đã đến trước của, Lả sống một mình, sống cô đơn như bị nhốt trong tù ngục. Vì bố mẹ, họ hàng không cho Lả được đi chơi. Và cũng cấm luôn cả bạn bè đến choi với Lả,,,”. Kiên quyết chống lại gia đình, Lả đã đến nhà Nghít, sống với Nghít như vợ chồng. La Bội Hoan trong Đọa đầy cũng vậy, cô đến với Đào Ki Nọi bằng tình yêu chân thành. Dù gia đình có ngăn cấm bằng cách nhốt Bội Hoan vào buồng kín, bắt cô lấy con của một gia đình giàu có… thì cô vẫn quyết bảo vệ tình yêu của mình. Cô trả lời bố một cách đanh thép: “Bố giết con thì con vẫn lấy anh Ki Nọi”. Thông qua các nhân vật, các tác giả muốn thể hiện khát vọng tự do và hạnh phúc của người phụ nữ miền núi.

III. Tiếng nói Phản kháng Phụ nữ DTTS đấu tranh vì Bình đẳng 50 60

Không chỉ đấu tranh chống lại những hủ tục lạc hậu, vấn đề nữ quyền còn thể hiện qua sự chủ động kiếm tìm hạnh phúc cho mình, dám bày tỏ tình yêu và dám đấu tranh bảo vệ tình yêu của mình. Khát khao hạnh phúc vốn là thứ khát vọng đẹp đẽ và chính đáng của người phụ nữ. Khát khao hạnh phúc bình dị đời thường của những người phụ nữ dân tộc thiểu số không phải là thứ gì đó cao xa mà chính là: khát khao một tình yêu trọn vẹn, hạnh phúc lứa đôi, khát khao được làm vợ, làm mẹ, được sống một cuộc sống tốt đẹp, yên bình. Các nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học có những hành động quyết liệt, thể hiện quyền của phụ nữ trong việc lựa chọn cuộc đời mình. Một số tác phẩm còn đề cập đến việc người phụ nữ dám vượt qua ranh giới của bổn phận để thỏa mãn khát vọng bản năng. Khát vọng được sống một cuộc đời hạnh phúc, được yêu thương, được tôn trọng là động lực để người phụ nữ miền núi vượt qua mọi khó khăn và thử thách.

3.1. Khát vọng Tình yêu và Hạnh phúc cá nhân trong văn học

Trong Hoa Mía, Mế Sang và bố Sang lấy nhau, nhưng do hủ tục nên hai người vẫn chưa được ở cùng nhau : “Phong tục vùng này, con gai lấy chồng vẫn phải ở nhà mình, lúc có con trai mới làm lễ rước con dâu và cháu nội. Chú rể sau lễ cưới phải về nhà mình, đến rằm tháng bảy, đốt mã trước cửa mả tổ tiên, ông bà và Tết cổ truyền đón xuân thì sang nhà gái, ở với vợ vài ngày, cứ thế cho đến lúc có con, vợ chồng mới được sống cùng nhau”. Nhưng đến ngày bố Sang phải đi bộ đội, mọi đau khổ Mế Sang phải gánh chịu, bụng Mế to dần, bị mọi người dân trong nhìn với con mắt chê bai, khinh thường nhưng Mế Sang vẫn mạnh mẽ, nuôi con một mình và khi biết chồng đã hi sinh ở chiến trường, một lần nữa người phụ nữ cam chịu ấy đã nén đau thương nuôi dậy đứa con trưởng thành. Hay trong câu chuyện của Mây, Mây có con với Dầm nhưng bố mẹ Dầm không chấp nhận. Xuất phát từ tình mẫu tử thiêng liêng, Mây đã phải chịu đựng rất nhiều điều tiếng để nuôi và bảo vệ đứa con của mình.

3.2. Vượt qua Định kiến Hành trình Tìm kiếm Bản ngã của Phụ nữ

Trong truyện Bồng bềnh sương núi, khi bị cha ngăn cấm tình yêu, Xúa đã chạy trốn, cô quyết tâm rời bỏ nơi mà hủ tục về hôn nhân luôn đè nặng lên những người con gái: “Cô chạy xuống núi, bàn chân không giầy cứ thế băng băng trên đường đá gập ghềnh. Đá cứa vào lòng bàn chân, đá dứt từng mảng da ở ngón chân cô, Xúa chạy qua ngày sang đêm, chạy đến lúc cái chân không dẫm lên đá, trên sỏi mà lún ngập xuống những thửa ruộng bằng phẳng…” Đây là hành động quyết liệt của Xúa để bảo vệ tình yêu trước mọi rào cản, thách thức của cuộc đời. Trong tiểu thuyết Người lang thang, Diên yêu Ngấn nhưng bị cha mẹ ép lấy Phắn- một gã trai bản xấu xa. Trái tim yếu đuối của Diên không thể vượt qua sự sắp đặt của cha mẹ. Sau hôn nhân, cuộc sống của Diên là những chuỗi ngày tẻ nhạt. Cuối cùng để giải thoát cho những đau khổ mình phải chịu đựng, cô chọn cách “Nắm tay con gái chạy vụt ra khỏi nhà. Phía sau là quá khứ khổ đau, là giả dối, là tình yêu đã mất”.

IV. Góc nhìn Nghệ thuật Thể hiện Nữ quyền trong Văn học DTTS 50 60

Có thể khẳng định, nghệ thuật xây dựng nhân vật và việc sử dụng ngôn ngữ giản dị, linh hoạt, mang đậm sắc thái dân gian là những hình thức nghệ thuật độc đáo của văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc đã tạo nên một bản sắc riêng cho bộ phận văn học này. Pautopxki đã nói: "Những nhân vật và những tính cách sinh động chính là tấm huân chương cao quí của nhà văn", nhân vật giữ một vai trò hết sức quan trọng trong thành công của một tác phẩm, một tác giả văn học. Với các nhà văn DTTS khi xây dựng nhân vật trong các sáng tác của mình đều chịu ảnh hưởng của thi pháp dân gian, kết thúc đều là kẻ ác bị trừng trị, người tốt được hưởng hạnh phúc. Mỗi nhân vật đều được khám phá trên nhiều khía cạnh về ngoại hình, tính cách, hành động, suy nghĩ, cảm xúc. Và đặc biệt về thế giới nội tâm nhân vật.

4.1. Xây dựng hình tượng người phụ nữ DTTS qua ngoại hình và hành động

Một điều đáng chú ý ở đây là những sáng tác viết về người phụ nữ miền núi với vẻ đẹp mộc mạc, chân thực và đặc biệt viết về người con gái đẹp miền núi, các nhà văn thường ưu ái ví họ như“Những bông hóa trên vách núi” hoặc “đẹp như một nàng tiên”.Người phụ nữ bên cạnh vẻ đẹp là nét tính cách đảm đang, khéo tay, chăm chỉ và ngời lên những phẩm chất cao quí - đó là lòng thủy chung, là tình yêu say đắm, nồng nàn đầy sự hy sinh để đến với tình yêu, để được yêu, để gìn giữ và bảo vệ tình yêu. Là sự dũng cảm vượt qua mọi rào cản của tục lệ cổ hủđể khát khao sống và vươn lên.

4.2. Ngôn ngữ Giản dị và Gần gũi Tái hiện Thế giới Nội tâm Phụ nữ

Với sự giản dị, mộc mạc, thông tục mà thẳng thắn và chân thành, người DTTS là những người sống yêu thương, đùm bọc, giàu tình nghĩa, họ không vòng vo mà rất thật thà, thẳng thắn dễ hiểu do vậy ngôn ngữ mà các nhà văn sử dụng trong các sáng tác văn xuôi của mình vô cùng gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ, phù hợp với tư duy và đáp ứng tâm tư, tình cảm của con người miền núi. Một số tác giả đã đưa chính ngôn ngữ của dân tộc mình vào trong các sáng tác giúp người đọc hiểu sâu hơn về cách cảm, cách nghĩ của người dân tộc. Mã A Lềnh là một minh chứng như vậy. Ông đã không ngần ngại đưa những từ ngữ riêng của người Mông vào trong sáng tác của mình. Vi Hồng,Nông Viết Toại và Cao Duy Sơnlại rất hay sử dụng các thành ngữ, tục ngữ tiếng Tày vào trong các sáng tác của mình…

V. Tương lai của Nữ quyền Văn học DTTS và Sự Tiến bộ Xã hội 50 60

Ngày nay, một xã hội công bằng, bình đẳng, nam nữ bình quyền thì người phụ nữ đã mạnh mẽ hơn, dám đương đầu, dám đấu tranh cho quyền lợi của chính mình. Tiến hành nghiên cứu những tác phẩm viết về nữ quyền của một số nhà văn DTTS miền núi phía Bắc từng bước mang lại thay đổi thực sự cho người phụ nữ đặc biệt là người phụ nữ miền núi thúc đẩy giải phóng phụ nữ, góp phần vào thành công của cách mạng dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Đây cũng là một hướng nghiên cứu đầy triển vọng, có ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Các vấn đề nữ quyền không chỉ bó hẹp trong văn học mà cần được mở rộng ra trong giáo dục, chính trị, và các lĩnh vực khác để thực sự mang lại bình đẳng cho phụ nữ.

5.1. Giáo dục và Nâng cao Nhận thức về Bình đẳng giới

Cần đẩy mạnh các chương trình giáo dục về bình đẳng giới, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, nơi các hủ tục còn tồn tại. Giáo dục giúp phụ nữ nhận thức được quyền lợi của mình và trang bị cho họ kiến thức để tham gia vào các hoạt động xã hội. Các tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông điệp về bình đẳng giới, giúp thay đổi nhận thức của cộng đồng.

5.2. Chính sách Hỗ trợ Phụ nữ DTTS và Tạo Cơ hội Phát triển

Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ đặc biệt cho phụ nữ DTTS, tạo điều kiện để họ tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, và việc làm. Cần có các chương trình đào tạo nghề phù hợp với đặc điểm văn hóa và kinh tế của từng vùng, giúp phụ nữ DTTS có thêm cơ hội phát triển kinh tế và nâng cao vị thế của mình trong gia đình và xã hội.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ vấn đề nữ quyền trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC 1. Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S. Mỗi dân tộc đã có đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển văn học nước nhà. Văn học dân tộc thiểu số là bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học ViệtNam, nó bao gồm sáng tác của tác giả người dân tộc thiểu số viết về dân tộc mình và những trăn trở của họ về các vấn đề về đời sống, xã hội.

Qua đó để thấy được “Quá trình nỗ lực tự hoàn thiện về tất cả mọi mặt của văn học DTTS để có thể hòa nhập và trở thành bộ phận quan trọng của nền vănxuôi Việt Nam hiện đại”.162] Đầu TK XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học chữ quốc ngữ, văn học DTTS cũng đã xuất hiện và dần khẳng định vị thế của mình.Trong đó phải kể đến văn xuôi dân tộc thiểu số, đó là một bức tranh muôn màu, đầy đủ và sát thực về hiện thực cuộc sống miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số.“Từ những tác phẩm được trau chuốt, chọn lọc trong nghệ thuật biểu hiện, đề tài mở rộng ở cả chiều rộng và chiều sâu,cách nhìn con người và cuộc sống đa diện nhiều chiều…Nó cho thấy sự trưởng thành thục sự của một nền văn học được đánh dấu bằng những thành tựu, thể hiện một cách nhìn, một sự khẳng định giá trị văn học đối với một nền văn xuôi giàu sức phát triển” [13, tr.Cũng kể từ đó, văn học đã góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi ngày một giàu đẹp hơn. Nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay,cần sự khẳng định về bản sắc văn hóa của dân tộc nếu như không muốn hòa tan nền văn hóa của dân tộc mình với dân tộc khác. Lịch sử hình thành, phát triển Đời sống và nền văn hóa dân tộc thiểu số với những sắc diện riêng biệt là nguồn cảm hứng bất tận cho văn học nghệ thuật phát triển đặc biệt là văn 9 download by : skknchat@gmail.Văn xuôi chỉ tổ chức ngôn ngữ như lời nói thường, như một dòng ngôn từ tuôn chảy không ngừng (chỉ tạm dừng ở chỗ ngắt ý, ngắt giọng, ngắt câu thông thường), không bị rằng buộc bởi quy luật số lượng hay vần điệu, nhịp điệu. Văn xuôi khai thác mạnh mẽ khả năng mô tả của ngôn từ để khái quát hiện thực đời sống“Miêu tả cuộc sống trong những hình thức vốn có của nó”và chính chất liệu ngôn từ đã giúp văn xuôi đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh đời sống, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người.

Vốn văn học dân gian của dân tộc thiểu số rất đa dạng và phong phú gồm nhiều thể loại như: Sử thi, dân ca, truyện cổ, thành ngữ- tục ngữ, truyện thơ, trường ca…Đây cũng là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển. Bên cạnh đó thì những tác phẩm văn xuôi của các tác giả người Kinh viết về đề tài miền núi như Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Ở rừng(Nam Cao), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) cũng là nguồn cảm hứng cho những nhà văn DTTS viết văn. Khu vực văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX và là một nền văn học trẻ. Tuy hình thành muộn, chủ yếu đươc hình thành và phát triển từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt nở rộ từ những năm 60 trở lại đây,trải qua hơn một nửa thế kỉ phát triển, văn xuôi các DTTS đã có nhiều khởi sắc từ đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, thể loại ngày càng phong phú tới số lượng và chất lượng tác phẩm ngày càng nhiều, hay và hấp dẫn hơn, gặt hái được nhiều thành tựu và đã phổ biến rộng khắp trên mọi vùng miền của tổ quốc.

Trên thực tế, với điều kiện địa lý và tự nhiên xã hội khác nhau, văn xuôi DTTS Việt Nam hiện đại tồn tại ở 3 khu vực chính đó là: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Tuy vậy ở mỗi khu vục này có sự phát triển khôngđồng đều. Nói đến khu vực Tây Nguyên, vào những năm 70,80 của TKXX mới xuất hiện tác giả Y Điêng, một người con của đồng bào dân tộc Ê đê, ông được coi là người giữ hồn văn hóa Ê đê trong văn chương nghệ thuật với tác phẩm như: Chuyện bên bờ sông Hinh (tiểu thuyết 2 tập), Drai Hlinh đi về phía sáng (truyện 10 download by : skknchat@gmail.com ngắn), Hờ Giang (truyện dài)…Nối tiếp ông xuất hiện thêm nhiều cây bút mới như: Hlinh Niê (Ê đê), Niê Thanh Mai (Ê đê), Hồ Thao Khằm (Vân Kiều)… Đến khu vực Tây Nam Bộ, cũng có sự xuất hiện của một số tác giả như:Lý Lan (Hoa), Inrasara và Trà Vigia (Chăm).Phát triển rực rỡ nhất phải kể đến văn xuôi khu vực miền núi phía Bắc, đây là khu vực mang màu sắc khác biệt với văn học và văn xuôi các khu vực khác: sự hiểm trở của địa hình núi cao, sự khắc nghiệt của thiên nhiên lạnh giá nhưng thiên nhiên nơi đây cũng chứa đựng cả sự hùng vĩ và thơ mộng. Cư dân chủ yếu là người dân tộc thiểu số như: Tày, Nùng, Mường, Dao, Mông… Đây cũng là khu vực có những sáng tác được cho là mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi hiện đại các DTTS như Ché Mèn được đi họp (1958), Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu…Đến đội ngũ nhà văn đông đảo là người dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao, Nùng như: Triều Ân, Hoàng An, Vi Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Nông Ích Đạt, Bế Dôn, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Bế Sĩ Uông, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, Nông Viết Toại, Bùi Thị Tuyết Mai, Bùi Thị Như Lan, Vương Trung,Cầm Biêu, La Quán Miên, Hoàng Nó, Mào Văn Ết, Lò Văn Cậy, Sa Phong Ba, Bàn Tài Đoàn, Bàn Thị Cúc, Mã Thế Vinh, Mã A Lềnh…Qua đó có thể thấy rằng, văn xuôi phát triển mạnh mẽ ở khu vực miền núi phía Bắc, chứa đựng những điểm độc đáo, hấp dẫn, khẳng định được bước đi vững chắc trên văn đàn với một thế hệ nhà văn tài năng và nhiệt huyết, để lại dấu ấn đậm nét.

Trải qua quá trình hình thành, cho đến nay, văn xuôi DTTS trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn đều đánh dấu sự phát triển vượt bậc và đáng ghi nhận. Giai đoạn hình thành (từ năm 1958 đến 1965), quá trình hình thành và phát triển chừng trên 70 năm kể từ sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và cách mạng đã làm sống lại vốn văn học truyền thống của các dân tộc thiểu số “Chế độ ta không những đã làm nảy nở những tài năng mà còn chú trọng khai thác những di sản văn học nghệ thuật quý báu của các dân tộc bấy lâu nay bị mai một dưới ách thực dân phong kiến…” [56, tr.Khi mà văn xuôi Quốcngữ 11 download by : skknchat@gmail.com đã phát triển đạt đến đỉnh cao thì nền văn xuôiDTTS Việt Nam mới có những bước đi đầu tiên. Trước hết là thơ, thời kỳ đầu, thơ các dân tộc thiểusố vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của thơ ca dân gian. Những người làm thơ xuất thân từ tầng lớp bình dân nên thơ ca dân tộc là sự kết hợp của cách mạng, nhân dân và văn hóa dân gian.Từ sau 1945, thơ ca đạt được những thành tựu với các tác giả là: Y Phương, Dương Thuấn, Lò Ngân Sủn…Tiếp đó là văn xuôi, do điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, trình độ nhận thức của nhà văn,đối tượng phản ánh nên văn xuôi DTTS ra đời muộn và phát triển chậm.

Phải từ sau cách mạng, từ sự thay đổi có tính bước ngoặt và căn bản về chất trong toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội cuối những năm 50,60 thì tư tưởng dân chủ mới được thể hiện rõ nét, đồng bào miền núi mới thực sự có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống mới, làm chủ cuộc đời, dám đấu tranh và phản kháng lại những áp bức, bất công, những phong tục tập quán nghèo nàn, lạc hậu, những tư tưởng phi dân chủ…Mặc dù quá trình hình thành và phát triển muộn nhưng thể loại văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc vẫn tạo được nền tảng vững chắc và quan trọng trong sự phát triển của văn học Việt Nam. Năm 1958 với sự ra đời truyện ngắn Ché mèn được đi họp của Nông Minh Châu, tác phẩm văn xuôi viết bằng tiếng dân tộc đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam của một tác giả người dân tộc thiểu số ra đời, sau được tác giả tự dịch ra tiếng phổ thông. Với đứa con đầu lòng này, Nông Minh Châu được những người trong nghề chào đón, được giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn Nghệ. Tiếp theo thành công đó là tiểu thuyết Muối lên rừng được Nông Minh Châu viết bằng tiếng Kinh ấn hành năm 1964 mở ra một thời kỳ mới cho tiểu thuyết phát triển.

Từ ảnh hưởng của Nông Minh Châu mà sau đó, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã xuất hiện thêm các tên tuổi như: Triều Ân, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Lâm Ngọc Thụ, Vương Trung, Hoàng Hạc… Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn phát triển về tầm vóc và chất lượng (từ 1965 đến những năm 70,80 của thế kỷ XX), văn xuôi miền núi giai đoạn này có điều kiện thuận lợi để phát triển về số lượng và quy mô tác phẩm, hình thành nên một khu rừng văn xuôi sum suê 12 download by : skknchat@gmail.com cành lá với Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Sa Phong Ba, Lò Văn Sỹ, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn… Đồng hành với đó là rất nhiều tác phẩm có chất lượng như: Niềm vui của Vi Thị Kim Bình(1979),Tiếng khèn A Pá của Triều Ân (1980), Cột mốc giữalòng sôngcủa Mã A Lềnh (1981),Những bông ban tím của Sa Phong Ba (1981), Chiếc vòng bạc của Lò Ngân Sủn (1987), Đuông thang của Vi Hồng (1988)…Đặc biệt trong đó Cao Duy Sơn là người đầu tiên viết văn xuôi người dân tộc được nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á, tạo ra một vị thế xứng đáng góp vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam muôn sắc ngàn hương.Đến giai đoạn này, có thể khẳng định, văn xuôi khu vực miền núi phía Bắc đã lớn mạnh, có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, là một nền văn học đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ