Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC 1. Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S. Mỗi dân tộc đã có đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển văn học nước nhà. Văn học dân tộc thiểu số là bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học ViệtNam, nó bao gồm sáng tác của tác giả người dân tộc thiểu số viết về dân tộc mình và những trăn trở của họ về các vấn đề về đời sống, xã hội.
Qua đó để thấy được “Quá trình nỗ lực tự hoàn thiện về tất cả mọi mặt của văn học DTTS để có thể hòa nhập và trở thành bộ phận quan trọng của nền vănxuôi Việt Nam hiện đại”.162] Đầu TK XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học chữ quốc ngữ, văn học DTTS cũng đã xuất hiện và dần khẳng định vị thế của mình.Trong đó phải kể đến văn xuôi dân tộc thiểu số, đó là một bức tranh muôn màu, đầy đủ và sát thực về hiện thực cuộc sống miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số.“Từ những tác phẩm được trau chuốt, chọn lọc trong nghệ thuật biểu hiện, đề tài mở rộng ở cả chiều rộng và chiều sâu,cách nhìn con người và cuộc sống đa diện nhiều chiều…Nó cho thấy sự trưởng thành thục sự của một nền văn học được đánh dấu bằng những thành tựu, thể hiện một cách nhìn, một sự khẳng định giá trị văn học đối với một nền văn xuôi giàu sức phát triển” [13, tr.Cũng kể từ đó, văn học đã góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi ngày một giàu đẹp hơn. Nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay,cần sự khẳng định về bản sắc văn hóa của dân tộc nếu như không muốn hòa tan nền văn hóa của dân tộc mình với dân tộc khác. Lịch sử hình thành, phát triển Đời sống và nền văn hóa dân tộc thiểu số với những sắc diện riêng biệt là nguồn cảm hứng bất tận cho văn học nghệ thuật phát triển đặc biệt là văn 9 download by : skknchat@gmail.Văn xuôi chỉ tổ chức ngôn ngữ như lời nói thường, như một dòng ngôn từ tuôn chảy không ngừng (chỉ tạm dừng ở chỗ ngắt ý, ngắt giọng, ngắt câu thông thường), không bị rằng buộc bởi quy luật số lượng hay vần điệu, nhịp điệu. Văn xuôi khai thác mạnh mẽ khả năng mô tả của ngôn từ để khái quát hiện thực đời sống“Miêu tả cuộc sống trong những hình thức vốn có của nó”và chính chất liệu ngôn từ đã giúp văn xuôi đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh đời sống, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người.
Vốn văn học dân gian của dân tộc thiểu số rất đa dạng và phong phú gồm nhiều thể loại như: Sử thi, dân ca, truyện cổ, thành ngữ- tục ngữ, truyện thơ, trường ca…Đây cũng là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển. Bên cạnh đó thì những tác phẩm văn xuôi của các tác giả người Kinh viết về đề tài miền núi như Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Ở rừng(Nam Cao), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) cũng là nguồn cảm hứng cho những nhà văn DTTS viết văn. Khu vực văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX và là một nền văn học trẻ. Tuy hình thành muộn, chủ yếu đươc hình thành và phát triển từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt nở rộ từ những năm 60 trở lại đây,trải qua hơn một nửa thế kỉ phát triển, văn xuôi các DTTS đã có nhiều khởi sắc từ đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, thể loại ngày càng phong phú tới số lượng và chất lượng tác phẩm ngày càng nhiều, hay và hấp dẫn hơn, gặt hái được nhiều thành tựu và đã phổ biến rộng khắp trên mọi vùng miền của tổ quốc.
Trên thực tế, với điều kiện địa lý và tự nhiên xã hội khác nhau, văn xuôi DTTS Việt Nam hiện đại tồn tại ở 3 khu vực chính đó là: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Tuy vậy ở mỗi khu vục này có sự phát triển khôngđồng đều. Nói đến khu vực Tây Nguyên, vào những năm 70,80 của TKXX mới xuất hiện tác giả Y Điêng, một người con của đồng bào dân tộc Ê đê, ông được coi là người giữ hồn văn hóa Ê đê trong văn chương nghệ thuật với tác phẩm như: Chuyện bên bờ sông Hinh (tiểu thuyết 2 tập), Drai Hlinh đi về phía sáng (truyện 10 download by : skknchat@gmail.com ngắn), Hờ Giang (truyện dài)…Nối tiếp ông xuất hiện thêm nhiều cây bút mới như: Hlinh Niê (Ê đê), Niê Thanh Mai (Ê đê), Hồ Thao Khằm (Vân Kiều)… Đến khu vực Tây Nam Bộ, cũng có sự xuất hiện của một số tác giả như:Lý Lan (Hoa), Inrasara và Trà Vigia (Chăm).Phát triển rực rỡ nhất phải kể đến văn xuôi khu vực miền núi phía Bắc, đây là khu vực mang màu sắc khác biệt với văn học và văn xuôi các khu vực khác: sự hiểm trở của địa hình núi cao, sự khắc nghiệt của thiên nhiên lạnh giá nhưng thiên nhiên nơi đây cũng chứa đựng cả sự hùng vĩ và thơ mộng. Cư dân chủ yếu là người dân tộc thiểu số như: Tày, Nùng, Mường, Dao, Mông… Đây cũng là khu vực có những sáng tác được cho là mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi hiện đại các DTTS như Ché Mèn được đi họp (1958), Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu…Đến đội ngũ nhà văn đông đảo là người dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao, Nùng như: Triều Ân, Hoàng An, Vi Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Nông Ích Đạt, Bế Dôn, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Bế Sĩ Uông, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, Nông Viết Toại, Bùi Thị Tuyết Mai, Bùi Thị Như Lan, Vương Trung,Cầm Biêu, La Quán Miên, Hoàng Nó, Mào Văn Ết, Lò Văn Cậy, Sa Phong Ba, Bàn Tài Đoàn, Bàn Thị Cúc, Mã Thế Vinh, Mã A Lềnh…Qua đó có thể thấy rằng, văn xuôi phát triển mạnh mẽ ở khu vực miền núi phía Bắc, chứa đựng những điểm độc đáo, hấp dẫn, khẳng định được bước đi vững chắc trên văn đàn với một thế hệ nhà văn tài năng và nhiệt huyết, để lại dấu ấn đậm nét.
Trải qua quá trình hình thành, cho đến nay, văn xuôi DTTS trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn đều đánh dấu sự phát triển vượt bậc và đáng ghi nhận. Giai đoạn hình thành (từ năm 1958 đến 1965), quá trình hình thành và phát triển chừng trên 70 năm kể từ sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và cách mạng đã làm sống lại vốn văn học truyền thống của các dân tộc thiểu số “Chế độ ta không những đã làm nảy nở những tài năng mà còn chú trọng khai thác những di sản văn học nghệ thuật quý báu của các dân tộc bấy lâu nay bị mai một dưới ách thực dân phong kiến…” [56, tr.Khi mà văn xuôi Quốcngữ 11 download by : skknchat@gmail.com đã phát triển đạt đến đỉnh cao thì nền văn xuôiDTTS Việt Nam mới có những bước đi đầu tiên. Trước hết là thơ, thời kỳ đầu, thơ các dân tộc thiểusố vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của thơ ca dân gian. Những người làm thơ xuất thân từ tầng lớp bình dân nên thơ ca dân tộc là sự kết hợp của cách mạng, nhân dân và văn hóa dân gian.Từ sau 1945, thơ ca đạt được những thành tựu với các tác giả là: Y Phương, Dương Thuấn, Lò Ngân Sủn…Tiếp đó là văn xuôi, do điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, trình độ nhận thức của nhà văn,đối tượng phản ánh nên văn xuôi DTTS ra đời muộn và phát triển chậm.
Phải từ sau cách mạng, từ sự thay đổi có tính bước ngoặt và căn bản về chất trong toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội cuối những năm 50,60 thì tư tưởng dân chủ mới được thể hiện rõ nét, đồng bào miền núi mới thực sự có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống mới, làm chủ cuộc đời, dám đấu tranh và phản kháng lại những áp bức, bất công, những phong tục tập quán nghèo nàn, lạc hậu, những tư tưởng phi dân chủ…Mặc dù quá trình hình thành và phát triển muộn nhưng thể loại văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc vẫn tạo được nền tảng vững chắc và quan trọng trong sự phát triển của văn học Việt Nam. Năm 1958 với sự ra đời truyện ngắn Ché mèn được đi họp của Nông Minh Châu, tác phẩm văn xuôi viết bằng tiếng dân tộc đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam của một tác giả người dân tộc thiểu số ra đời, sau được tác giả tự dịch ra tiếng phổ thông. Với đứa con đầu lòng này, Nông Minh Châu được những người trong nghề chào đón, được giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn Nghệ. Tiếp theo thành công đó là tiểu thuyết Muối lên rừng được Nông Minh Châu viết bằng tiếng Kinh ấn hành năm 1964 mở ra một thời kỳ mới cho tiểu thuyết phát triển.
Từ ảnh hưởng của Nông Minh Châu mà sau đó, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã xuất hiện thêm các tên tuổi như: Triều Ân, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Lâm Ngọc Thụ, Vương Trung, Hoàng Hạc… Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn phát triển về tầm vóc và chất lượng (từ 1965 đến những năm 70,80 của thế kỷ XX), văn xuôi miền núi giai đoạn này có điều kiện thuận lợi để phát triển về số lượng và quy mô tác phẩm, hình thành nên một khu rừng văn xuôi sum suê 12 download by : skknchat@gmail.com cành lá với Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Sa Phong Ba, Lò Văn Sỹ, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn… Đồng hành với đó là rất nhiều tác phẩm có chất lượng như: Niềm vui của Vi Thị Kim Bình(1979),Tiếng khèn A Pá của Triều Ân (1980), Cột mốc giữalòng sôngcủa Mã A Lềnh (1981),Những bông ban tím của Sa Phong Ba (1981), Chiếc vòng bạc của Lò Ngân Sủn (1987), Đuông thang của Vi Hồng (1988)…Đặc biệt trong đó Cao Duy Sơn là người đầu tiên viết văn xuôi người dân tộc được nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á, tạo ra một vị thế xứng đáng góp vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam muôn sắc ngàn hương.Đến giai đoạn này, có thể khẳng định, văn xuôi khu vực miền núi phía Bắc đã lớn mạnh, có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, là một nền văn học đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc.