Chương 1- Cơ sở lý thuyết về truyền thông và truyền hình Chương 2- Cơ sở thực tiễn nội dung các chương trình truyền hình dành cho học sinh tiêu học. Chương 3- Đánh giá hiệu quả nội dung chương trình truyền hình dành cho học sinh tiêu học năm học 2019-2020. Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 14 Khóa luận tốt nghiệp CHUONG 1- CƠ SỞ LÝ THUYET VE TRUYEN THONG VÀ TRUYEN HÌNH 1.1 Khái niệm truyền thông Trong lịch sử nghiên cứu truyền thông, việc đưa ra định nghĩa “truyền thông” chính xác luôn là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận. Vị giáo sư người Mỹ Frank E.
Dance đã chỉ ra ba “sự khác nhau quan trọng về khái niệm” trong việc định nghĩa “truyền thông”. Đầu tiên là sự khác nhau về mức độ quan sát (level of observation). Trong khi một số khái niệm có tính bao quát, như: “The process that links discontinuos parts of the living world to one another” (tạm dịch: La quá trình kết nối những phan bị gián đoạn của thế giới với nhau), số khác lại cu thé hơn: “The means of sending military messages, orders, efc., as by telephone, telegraph, radio, couriers,” (tam dich: La phuong tién truyén tải tin nhắn, mệnh lệnh. bằng điện thoại, điện báo, ra-đi-ô, người đưa thư.) Sự khác nhau thứ hai là về mục đích (intentionality).
Theo Giáo sư người Mỹ, đồng thời cũng là tác giả đáng chú ý trong lĩnh vực truyền thông Gerald R. Miller, cho rằng truyền thông là một quá trình truyền tải thông điệp với mục đích rõ rang: “Those situations in which a source transmits a message to a receiver with conscious intent to affect the latter’s behaviors” (tam dich: La những tinh huống mà người nhận chủ động tiếp nhận thông tin được truyền tải từ nguồn phat, sau đó dẫn đến sự thay đổi trong hành vi. Tuy nhiên, tác giả Gary Cronkhite lại nhận định rang:” Human communication has occurred when a human being responds to a symbol.” (tạm dịch: Truyền thông xảy ra khi con người phan ứng lại với một sự kiện/hiện tượng nào đó.) Cuối cùng là về đánh giá mang tính quy chuẩn (normative judgement). Nếu khái niệm của tác giả John B.
Hoben chi ra rang: “Communication is the verbal interchange of a thought or idea.” (tạm dịch: Truyền thông là sự trao đổi suy nghĩ và ý tưởng thông qua ngôn ngữ nói.), thì hai tác giả Bernard Berdson Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 15 Khóa luận tốt nghiệp and Gary Steiner cho rằng truyền thông chỉ đơn giản là: “the transmission of information” (tạm dịch: Sự trao đổi thông tin) và không đánh giá mức độ hiệu quả hay thành công của quá trình. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Truyền thông là quá trình trao đổi liên tục thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, và cộng đồng xã hội” Theo định nghĩa trong cuốn “Cơ sở lý luận Báo chí truyền thông”: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức.” Theo tác giả Tạ Ngọc Tan: “Truyén thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.” Trong cuốn sách Communication: The Social Matrix of Psychiatry, nhà tâm than hoc Jurgen Ruesch đã liệt kê một số chức năng chính của Truyền thông, đó là: e To receive and transit messages and to retain information. (tạm dịch: Nhận và truyền tải thông điệp, duy tri thông tin) e To perform operations with the existing information for the purpose of deriving new conclusions which were not directly perceived and for reconstructing past and anticipating future events.
(tam dich: Dựa trên thông tin đã có dé đưa ra những quyết định mới, nhăm tái thiết lập qua khứ đồng thời dự đoán tương lai.) e To initiate and modify physiological processes within his body. (tạm dich: Cai bién qua trinh sinh ly hoc.) e To influence and direct other people and external events. (tam dich: Tac động hoặc định hướng người khác và các sự kiện xung quanh.) Dựa trên quy mô truyền thông, học giả Denis McQuail còn đưa ra các dạng thức truyền thông là: Truyền thông nội biên (intrapersonal Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 16 Khóa luận tốt nghiệp communication), Truyền thông liên cá nhân/Truyền thông ngoại biên (interpersonal communication), Truyền thông nhóm (group communication) và Truyền thông đại chúng (mass communication). Giải thích ngắn gọn, truyền thông nội biên là quá trình trao đổi thông tin diễn ra bên trong “bản thân mỗi con người”.
Ngược lại, truyền thông liên cá nhân “mang tính xã hội, quan hệ hữu cơ với xã hội”, là hoạt động trao đổi thông tin giữa người này và người khác “thông qua sự tiếp nhận của các giác quan” (Tạ Ngọc Tan, 2001). Nhà tâm thần học Jurgen Ruesch nhận định rằng, truyền thông nội biên chính 1a “a special case of interpersonal communication”- (tạm dịch: trường hop dac biét cua truyén thông liên cá nhân). Trong khi đó, một sự kiện truyền thông có yếu tô liên cá nhân sẽ mang những đặc điểm sau: e The presence of expressive acts on the part of one or more persons. (tam dịch: Khi giao tiếp giữa các cá nhân có sử dung các hành động có tinh bộc lộ cảm xúc.) e The conscious or unconscious perception of such expressive actions by others (tam dịch: Những hành động đó được tiếp nhận có hoặc vô thức.) e The return observation that such expressive actions were perceived by others.
The perception of having been perceived is a fact which deeply influences and changes human behavior- (tam dich: Quan sát được những hành đó đã được tiếp nhận, điều nay ảnh hưởng sâu sắc và thay đổi hành vi con người.) Ông cũng chỉ ra su khác nhau cơ bản giữa truyền thông nội biên và truyền thông liên cá nhân, đó là “registration of mistakes”- (tạm dịch- xử lý những lỗi sai). Với truyền thông liên cá nhân, các hành động có tính bộc lộ cảm xúc và có chủ đích được đánh giá, sau đó có thể được sửa lại nếu bị truyền đạt sai. Tuy nhiên, với truyền thông nội biên, việc bản thân một người nhận ra mình đã hiểu sai thông điệp mà chính mình đưa ra, là hoàn toàn khó hoặc thậm chí, không thé. Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 17 Khóa luận tốt nghiệp Truyền thông nhóm là quá trình trao đổi thông tin diễn ra trong một cộng đồng hoặc tổ chức.
Trong quá trình truyền thông thường có sự tham gia của một người định hướng. Cuối cing 1a truyền thông đại chúng (mass communication), sẽ được giải thích chi tiết ở mục 1.4 Society-wide networks (e. communication) Institutional/organizational Level of Fa ae (e.g, political system or communication ; : business firm) process Intergroup or association (e. local community) Intragroup (e.
dyad, couple) Intrapersonal (e. processing information) Hình 1.1 Mức độ của giai đoạn truyén thông. Nguồn: Sách “Sociology ofMass Communication-”” Denis McQuail 1.2 Tiruyen thông dai chúng và Phương tiện truyền thông đại chúng Đề hiểu được khái niệm “Truyền thông đại chúng”, trước hết tác giả xin đưa ra định nghĩa về “Đại chúng”. Dai chúng (The mass) được dùng dé chỉ những cá nhân hoặc nhóm người là khán, thính hoặc độc giả của phương tiện truyền thông đại chúng.
Khi so sánh với định nghĩa của từ “audience” (khan gia), tác gia Sonia Livingstone dua ra nhận định sau: “audiences are denigrated as trivial, passive, individualized, while publics are valued as active, critically engaged and politically Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 18 Khóa luận tốt nghiệp significant. Theo học giả Denis McQuail, một số đặc điểm chính của truyền thông đại chúng là: e Composed of a large aggregate of people (tạm dịch: Bao gồm tập hợp cá nhân với số lượng lớn). e Mainly negative perception (tam dịch: Da phan là nhận thức tiêu cực). e Lacking internal order or structure (tam dich: Thiếu trật tự và cấu trúc).
e Reflective of a wider mass society (tạm dịch: Phản anh một xã hội đại chúng ở quy mô lớn hơn). Theo tác giả Mai Quỳnh Nam, giao tiếp đại chúng được hiểu như là sự truyền bá với số lượng lớn những nội dung giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội, dựa vào những kỹ thuật truyền bá tập thé, gọi là media. Các kênh truyền thông đại chúng (mass media) đóng vai trò là trung gian, truyền tải thông tin đến công chúng. Những thông tin được truyền tai qua kênh này thường có đặc điểm sau: tính công chúng, thông tin tổng hợp, có tính kip thời và định kỳ.
Theo học giả và nhà văn người Mỹ Daniel Lerner, sự chuyên tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống truyền thông đại chúng chính là một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyền đổi từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại. Dựa trên Tháp nhu cầu Maslow (Maslow's Hierarchy of Needs), ở tầng thứ 3- Nhu cầu về xã hội- kết nối (social needs), sau khi đã được thỏa mãn về nhu cầu cơ bản (basic needs) ở tầng thứ 1 và nhu cầu được bảo đảm sự an toàn (safety needs) ở tầng thứ 2, con người bắt đầu thể hiện mong muốn được yêu thương, được thuộc về một tổ chức hay một xã hội nao đó. Từ đó, ngày càng có Lê Ngọc Anh - DI7CQTT02-B 19 Khóa luận tốt nghiệp nhiều người tham gia vào quá trình giao tiếp xã hội, điều này đồng nghĩa với việc phương thức giao tiếp cá nhân không còn phát huy tác dụng nữa. Con người bắt đầu tìm kiếm những quá trình truyền thông ở quy mô lớn hơn với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đại hơn.
Như vậy, có thê thấy rằng, sự phát triển của công nghệ gắn liền với sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng nói riêng và truyền thông đại chúng nói chung. Tác giả Tạ Ngọc Tan có đưa ra định nghĩa ngăn gọn về truyền thông dai chúng như sau: Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Harold Lasswell đã nêu lên ba chức năng chính của truyền thông đại chúng, đó là: “Surveillance of the environment” (tạm dịch: Kiểm soát môi trường xã hội”, “Correlation of components of society” (tạm dịch: Liên kết các bộ phận của xã hội với nhau) va “Transmission of culture between generations” (tạm dịch: Truyền tải đi sản xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác.) Thế ky 20 được mô tả là “first age of mass media” (tam dịch: kỷ nguyên đầu tiên của phương tiện truyền thông dai chúng) (McQuail, 1983). Nguyên nhân là bởi các hình thái ban đầu của các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông đại chúng đã bắt đầu xuất hiện từ khắp nơi trên giới.