Chương 1 đã trình bày tổng quan về các vấn đề xung quanh nghiên cứu cũng như tính cấp bách để thực hiện đề tài này. Thông qua sơ bộ các nội dung trên, có thể nhận thấy rằng, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh” không chỉ mang lại ý nghĩa về mặt khoa học mà còn đóng góp tích cực về mặt thực tiễn cho các công ty chứng khoán. Đây chính là nền móng vững chắc cho các bước nghiên cứu tiếp theo của tác giả. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Định nghĩa chứng khoán Theo khoản 1, điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, thuật ngũ “chứng khoán” được định nghĩa là một bằng chứng để xác minh việc sở hữu hợp pháp của người sở hữu và thường được coi là một công cụ tài chính có thể thay thế, thỏa thuận và giao dịch, đại diện cho một giá trị tài chính cụ thể. Các loại chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh, chứng quyền, quyền mua cổ phần và chứng chỉ lưu ký. Định nghĩa đầu tƣ chứng khoán Theo khoản 15, điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, đầu tư chứng khoán là các hoạt động mua, bán, nắm giữ chứng khoán của NĐT trên TTCK. NĐT có thể là các tổ chức hoặc các cá nhân hoạt động trên thị trường.
Mục đích của các NĐT khi đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời hoặc tăng giá trị phần vốn trong tương lai. Đầu tư chứng khoán có thể có lợi nhuận cao, nhưng cũng đi kèm với mức rủi ro cao. Thị trường chứng khoán có thể biến động mạnh và không đảm bảo lời nhuận. Người đầu tư cần hiểu rõ về công ty hoặc tài sản mình đang đầu tư, nghiên cứu thị trường và quản lý rủi ro để đưa ra quyết định đầu tư thông minh và cân nhắc đến mục tiêu tài chính cá nhân của mình.
Định nghĩa ý định đầu tƣ chứng khoán Ý định hành vi là việc mô tả tính sẵn sàng của mỗi cá nhân khi họ chuẩn bị thực hiện một hành động đã được xác định trước, và nó được coi là bước chuẩn bị trước cho hành vi đó (Ajzen và Fishbein, 1975). Trong nghiên cứu về các sản phẩm tài chính, nhiều nghiên cứu đã sử dụng ý định đầu tư làm biến số quyết định để đo lường mức độ ảnh hưởng đến việc quyết định đầu tư (Chauhan, và Chakraborti, 2015; Lim, Soutar, và Lee, 2013; Sivaramakrishnan, Srivastava, và Rastogi, 2017). Khái niệm ý định đầu tư chứng khoán đề cập đến quá trình hình thành ý muốn hoặc quyết định của một người 8 hoặc tổ chức khi họ định đầu tư tiền vào thị trường chứng khoán. Sự quyết định đầu tư thường liên quan chặt chẽ đến hành vi tham gia thực tế vào thị trường đầu tư.
NĐT sẽ có xu hướng cân nhắc xem xét rủi ro và tiềm năng lợi nhuận trước khi đưa ra quyết định đầu tư (Sashikala và Chitramani, 2018). Các mô hình lý thuyết có liên quan 2. Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Lý thuyết hành động hợp lý cho rằng nhân tố ảnh hưởng xã hội và thái độ ảnh hưởng đến quyết định hành vi và từ đó quyết định hành vi là nhân tố chủ chốt tác động đến hành vi thực sự. Nó được thiết kế để giải thích và dự đoán hành vi con người, đặc biệt là những hành vi mà con người có thể kiểm soát và liên quan đến việc đưa ra quyết định chủ ý.
Có 2 nhân tố quan trọng trong mô hình tác động đến ý định hành vi là Thái độ (Attitudes) và Chuẩn mực chủ quan (Subjective Norms) do Fishbein (1967) xây dựng và được phát triển, và kiểm định bởi Ajzen và Fishbein (1975). Qua đó ta thấy thái độ là biểu hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đều dựa trên nhân tố cá nhân. Bên cạnh việc biết một cá nhân thực hiện hành vi và tần suất của nó, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc tại sao mọi người thực hiện hoặc không hành động, điều gì quyết định sự lựa chọn của họ và những biến thể bên ngoài ảnh hưởng như thế nào đến quyết định của họ. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Aijen và Fishbein (1975) Vì là mô hình lý thuyết đầu tiên, nên có thể thấy mô hình TRA gặp một số hạn chế nhất định.
Trong đó, có thể kể đến là giả định về lí trí của con người hoàn toàn kiểm soát được hành vi của người đó. Do đó mà lý thuyết này chỉ áp dụng đối với hành vi đã có suy nghĩ từ trước. Quyết định hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen hoặc hành vi thực sự được coi là không ý thức, do đó không thể được giải thích bởi lý thuyết này. Mô hình TRA đã được sử dụng để nghiên cứu các hành vi khác nhau, các chủ đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe, tài chính, tiếp thị, quảng cáo và nhiều hơn nữa.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Bahavior – TPB) Lý thuyết hành vi có kế hoạch là một mô hình tâm lý xã hội được phát triển bởi Ajzen (1991), nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quát hơn về hành vi con người, đặc biệt là các hành vi phức tạp mà không hoàn toàn dựa vào quyết định chủ ý. TPB là một phần phát triển dựa trên mô hình TRA, khi thêm vào biến Nhận thức kiểm soát hành vi (Percieved Behavioral Control), nhằm mang lại một số lợi ích trong việc dự đoán và lý giải hành vi của cá nhân trong cùng một tình huống. Theo đó, hành vi của mỗi cá nhân chịu sự tác động của ba nhân tố gồm: Thái độ (Attitudes), Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) và Nhận thức kiểm soát hành vi (Percieved Behavioral Control). Lý thuyết hành vi có kế hoạch đề xuất rằng các yếu tố này tương tác với nhau để dự đoán ý định hành vi và do đó ảnh hưởng đến hành vi thực tế của cá nhân đó.
Nó đã được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu và khám phá các hành vi như hành vi mua sắm, hành vi sử dụng dịch vụ y tế, hành vi bảo vệ môi trường và nhiều lĩnh vực khác. Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Nguồn: Ajzen và Fishbein, (1991) 2. Các nghiên cứu có liên quan 2. Các nghiên cứu trong nƣớc Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán của NĐT cá nhân tại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19” của Nguyễn Đình Toàn và ctg (2022), đã đề xuất ra các nhân tố bao gồm: Thái độ, Hiểu biết tài chính, Chuẩn chủ quan, Xu hướng chấp nhận rủi ro, Ưu tiên cho sự đổi mới, Hiệu quả tự tài chính, Tuơng tác xã hội và Đại dịch Covid-19.
Trong nghiên cứu này, khảo sát được dựa trên cơ sở dữ liệu thực hiện thông qua 525 NĐT quan tâm và đang có ý định đầu tư vào TTCK, ngoài ra nhóm tác giả đã sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố Đại dịch Covid-19, Xu hướng chấp nhận rủi ro, Thái độ, Hiệu quả tự tài chính và Chuẩn chủ quan có tác động tích cực lên ý định đầu tư của các cá nhân theo mức độ giảm dần. Trong khi đó, nhân tố Kiến thức tài chính lại có tác động tiêu cực lên ý định đầu tư chứng khoán. Mô hình hoàn chỉnh của Nguyễn Đình Toàn & ctg Nguồn: Nguyễn Đình Toàn và ctg (2022) Bài nghiên cứu của Phan Trần Trung Dũng (2020) thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán phái sinh của các nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam.
Nghiên cứu này dựa trên mô hình lý thuyết TPB và bổ sung thêm những yếu tố mở rộng để xây dựng một mô hình đề xuất bao gồm: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Kinh nghiệm quá khứ, Nhận thức về rủi ro và Hiểu biết tài chính. Mô hình này được áp dụng và khảo sát với 486 NĐT, sau đó dùng PLS-SEM để phân tích. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng biến trong mô hình đều có tác động trực tiếp đến ý định đầu tư chứng khoán phái sinh, trừ biến Chuẩn xã hội. Trong đó, các 12 biến Nhận thức kiểm soát hành vi, Kinh nghiệm quá khứ và Thái độ có tác động cùng chiều và mạnh nhất đến biến phụ thuộc, trong khi biến Nhận thức về rủi ro lại có tác động ngược chiều và gián tiếp đến ý định đầu tư chứng khoán phái sinh thông qua việc ảnh hưởng đến biến Thái độ.
Ngoài ra, biến Thái độ cũng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Nhận thức về rủi ro và Ý định đầu tư. Mô hình hoàn chỉnh của Phan Trần Trung Dũng Nguồn: Phan Trần Trung Dũng (2020) Nghiên cứu của Tiên và ctg (2022) thảo luận về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán của sinh viên tại TP.HCM, đã đề xuất ra mô hình nghiên cứu gồm các nhân tố: Hiểu biết tài chính, Thời gian, Nguồn vốn, Tính cách cá nhân và Nhận thức rủi ro. Nghiên cứu được khảo sát và nhận về được 202 phiếu khảo sát hợp lệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 5 biến độc lập trong mô hình đề xuất đều có ý nghĩa và tác động lên biến phụ thuộc.
Trong đó, nhân tố Tính cách cá nhân có mức độ 13 ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và nhân tố Thời gian có mức độ ảnh hưởng ít nhất đến ý định đầu tư chứng khoán của sinh viên. Mô hình hoàn chỉnh của Nguyễn Thị Bảo Tiên & ctg Nguồn: Nguyễn Thị Bảo Tiên và ctg (2022) 2. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nghiên cứu của Nugraha và Rahadi (2021) thảo luận về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán tại Indonesia của thế hệ NĐT trẻ thuộc đối tượng Millenial và gen Z. Nghiên cứu được thực hiện khảo sát bằng phương pháp PLS-SEM và thu được 64 mẫu.
Dựa trên mô hình lý thuyết TPB và mở rộng thêm các đặc điểm nhân khẩu học, tác giả đã đề xuất ra mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán của các NĐT trẻ tại Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 14 không hẳn tất cả các biến trong mô hình TPB đều có tác động đến ý định đầu tư chứng khoán, mà chỉ duy nhất biến Thái độ có mức ảnh hưởng đáng kể. Bên cạnh đó, trình độ học vấn của các NĐT thuộc thế hệ trẻ tại Indonesia cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán.