chương 1, tác giả đã trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, tổng quan nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài và kết cấu của đề tài. Chương 2 tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn dịch vụ thẻ ATM của khách hàng.” 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về về thẻ ATM 2.1 Khái niệm thẻ ATM “Thẻ ATM là một loại thẻ theo chuẩn ISO 7810, gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, dùng để thực hiện các giao dịch tự động như mua thẻ điện thoại, thanh toán hóa đơn, kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyển khoản v. từ máy rút tiền tự động (ATM). Tại các điểm thanh toán có chấp nhận thẻ thì loại thẻ này cũng được chấp nhận như một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Loại thẻ có chức năng rút tiền dựa trên cơ sở ghi nợ vào tài khoản tại Việt Nam thường được hiểu là thẻ ghi nợ, hay còn gọi là thẻ ghi nợ nội địa. Chủ tài khoản chỉ được rút trong giới hạn tiền có trong tài khoản của mình và phải có sẵn tiền trong tài khoản từ trước. Một số ngân hàng cho phép rút đến mức 0, tuy nhiên có một số ngân hàng khác yêu cầu băt buộc phải để lại một số tiền tối thiểu trong tài khoản. Theo Lê Thị Ngọc Thúy (2014).2 Phân loại thẻ ATM Theo Lê Thị Ngọc Thúy (2014) như sau: 2.1 Phân loại thẻ theo tính chất thanh toán của thẻ “Thẻ tín dụng (credit card): Đây là loại thẻ được sử dụng rất phổ biến hiện nay.
Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để sử dụng trên tài khoản thẻ. Chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn không phải trả lãi để mua hàng hoá và dịch vụ. Hạn mức của thẻ cũng chính là hạn mức tín dụng mà ngân hàng cho khách hàng vay. Cuối tháng, khách hàng sẽ nhận được một bảng sao kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng lãi và phí phát sinh trong một chu kỳ sử dụng thẻ, được gửi cho chủ thẻ hàng tháng ngay sau ngày lập bảng sao kê do ngân hàng gửi tới.
Nếu khách hàng thanh toán được hết số tiền nợ thì sẽ không phải trả lãi. Còn nếu trả được một phần (hiện nay quy định thấp nhất là 20% số tiền nợ) thì 9 chủ thẻ phải trả lãi, trả phí hoặc bị phạt theo quy định của ngân hàng trong từng thời kỳ.” “Thẻ ghi nợ (debit card): Loại thẻ này có quan hệ trực tiếp và găn liền với tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản séc. Người sử dụng không phải ký gửi tiền vào tài khoản tại ngân hàng nhằm đảm bảo thanh toán thẻ. Khi mua hàng hoá, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại nơi tiếp nhận thẻ như cửa hàng, khách sạn…Thẻ ghi nợ cũng hay rút tiền tại máy ATM.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản chủ thẻ. Đây là thẻ thường áp dụng cho những khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên với ngân hàng.” “Thẻ trả trước (prepaid card): Đây là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không cần phải thực hiên các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu của ngân hàng, họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng cấp cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của thẻ này giống thẻ bình thường, chỉ có điều thẻ được giới hạn trong số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một thời gian nhất định tùy vào quy định của mỗi ngân hàng.” “Thẻ rút tiền tự động (cash card): Là loại thẻ ghi nợ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc sử dụng các dịch vụ khác mà máy ATM cung ứng.2 Phân loại thẻ theophạm vi lãnh thổ Và tạp chí trên cũng cho biết thẻ được chia thành 2 loại. “Thẻ nội địa: Là lợi thẻ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ.
Thẻ cũng có các đặc điểm như các loại thẻ khác, song điểm khác chủ yếu là phạm vi sử dụng.” “Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thẻ này được khách hàng ưa chuộng do tính thuận lợi, an toàn. Các ngân hàng cũng có được lợi ích đáng kể với loại thẻ này như nhận được nhiều sự giúp đỡ trong nghiên cứu thị trường, chi phí xây dựng cơ sở chấp nhận thẻ thấp hơn so với tự hoạt động.3 Phân loại thẻ theo công nghệ “(Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Thẻ thông minh được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, nhờ găn vào thẻ một chíp điện tử mà thẻ có cấu tạo giống như một máy tính hoàn hảo.
Hiện nay, thẻ thông minh đang dần được các ngân hàng sử dụng rất phổ biến vì có ưu điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả được, ngoài ra còn làm cho quá trình thanh toán thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn.3 Đặc điểm của thẻ ATM “Thẻ có hình dáng hình chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 10 cm x 6 cm10 cm x 6 cm. Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, và băng từ (thẻ từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại Ngân hàng nào đó.” “Mặt trước của thẻ bao gồm: Tên và logo ngân hàng phát hành thẻ. Số thẻ, tên chủ thẻ. Tháng, năm phát hành thẻ.” “Mặt sau của thẻ bao gồm: Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hóa.
Ô chữ ký dành cho chủ thẻ. Lời ghi chú bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Địa chỉ nơi phát hành thẻ.” “Số PIN: là mã số cá nhân riêng chỉ dành cho chủ thẻ nhằm mục đích thực hiện các giao dịch rút tiền tại các máy rút tiền tự động. Mã số này do ngân hàng phát hành cung cấp cho chủ thẻ nên chỉ một mình chủ thẻ được biết.4 Lợi ích của việc sử dụng thẻ ATM 2.1 Đối với chủ thẻ “Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ được ngân hàng cung cấp một dịch vụ thanh toán, có thể mua hàng hóa và sử dụng dịch vụ tại hơn 30 triệu đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ, rút tiền mặt tại hơn 18.700 máy ATM tại Việt Nam.
Có thể thanh toán và rút tiền mặt bằng ngoài tệ ở nước ngoài và hoàn trả lại mang lại sự tiện lợi rất lớn trong cuộc sống hằng ngày. Được cung cấp các dịch vụ khách hàng 24/24h. Số dư trong tài khoản được hưởng lãi suất không kỳ hạn nếu như không sử dụng. Việc 11 dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh toán đảm bảo khả năng chi tiêu đa ngoại tệ, không lệ thuộc vào ngoại tệ của nước nào, có độ bảo mật cao và tiện dụng lớn.2 Đối với ngân hàng phát hành thẻ “Nâng cao thương hiệu, vị thế của Ngân hàng.
Thể hiện tính chuyên nghiệp trong sự phục vụ khách hàng.Chi phí được giảm, nâng cao sự tiện dụng và an toàn hơn tiền mặt. Nâng cao doanh số bán hàng vì sự tiện lợi, thu hút thêm được những khách hàng có thói quen mua săm thanh toán qua thẻ.5 Quy trình nghiệp vụ thẻ ATM “Theo Lê Thị Ngọc Thúy (2014) như sau: “Ngân hàng phát hành (NHPH): là thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế, là ngân hàng tiến hành các thủ tục để in thẻ cho khách hàng. Ngân hàng phát hành có trách nhiệm: xem xét việc phát hành thẻ, hướng dẫn chủ thẻ sử dụng và thực hiện các quy định cần thiết khi sử dụng thẻ, thanh toán số tiền trên hoá đơn do ngân hàng đại lý chuyển đến, cấp phép cho các thương vụ vượt hạn mức. Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập sao kê ghi rõ và đầy đủ các giao dịch phát sinh và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trục tiếp vào tài khoản của chủ thẻ đối với thẻ ghi nợ.
“ “Chủ thẻ: là người có tên ghi trên thẻ, được dùng thẻ để thanh toán hàng hoá, dịch vụ thay tiền mặt. Do vậy không áp dụng chế độ ủy quyền sử dụng thẻ cho người thứ hai. Chỉ có chủ thẻ mới có quyền sử dụng thẻ. Mỗi khi thanh toán cho cơ sở chấp nhận thẻ, chủ thẻ xuất trình thẻ để cơ sở kiểm tra theo quy định và lập biên lai thanh toán.
Ngoài ra chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc tại các ngân hàng đại lý. Theo thông lệ chủ thẻ chính có thể phát hành thêm thẻ phụ, thẻ chính và thẻ phụ đều có chung một tài khoản, nhưng chỉ có chủ thẻ chính mới được giao dịch với ngân hàng.” “Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): là đơn vị bán hàng hóa, dịch vụ có ký kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: cửa hàng, khách sạn, nhà hàng, rạp chiếu phim, trung tâm thương mại, các đại lý bán vé máy 12 bay.Thông thừờng các đơn vị này được ngân hàng trang bị máy móc kỹ thuật để chấp nhận thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ.” “Ngân hàng thanh toán (NHTT): là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với ĐVCNT và thanh toán các chứng từ giao dịch do ĐVCNT xuất trình. Đối với thẻ Visa Card và Master Card thì ngân hàng thanh toán phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế đó. Một ngân hàng vừa có thể đóng vai trò là ngân hàng thanh toán vừa đóng vai trò là ngân hàng phát hành.
Theo thông tin tạp chí ngân hàng đăng 28/02/2017.” Quy trình nghiệp vụ thẻ: Khách hàng Ngân hàng phát hành Trung tâm thẻ Hình 2.1: Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ Nguồn: Theo Lê Thị Ngọc Thúy (2014) (1) Khách hàng đến ngân hàng phát hành yêu cầu cấp thẻ và thực hiện một số thủ tục cần thiết như điền các giấy tờ để xin sử dụng thẻ, nộp một số giấy như chứng minh nhân dân, biên lai nhận lương, nộp thuế thu nhập. (3) Khi hồ sơ phát hành thẻ đầy đủ phù hợp, ngân hàng phân loại khách hàng và viết giấy hẹn ghi rõ ngày khách hàng đến lấy thẻ và gửi văn bản ký hợp đồng đến trung tâm dịch vụ thẻ.