Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết nhằm mục đích xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh lớp 12 THPT trong tỉnh Khánh Hòa. Phần đầu tiên sẽ tóm lược lý thuyết liên quan về hướng nghiệp ở trường THPT và các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh. Tiếp theo, trình bày lý thuyết về các bước trong quá trình quyết định lựa chọn trường và mô hình lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của D.
Trên cơ sở lý thuyết đã được phân tích ở trên tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết của đề tài.2 Hướng nghiệp Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã nhen nhóm cho sự ra đời của “hướng nghiệp”, đặc biệt là kể từ sau sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản.Mác đã mô tả quá trình thầm lặng phân hóa và phân chia lao động thành từng nhóm đã cho thấy: rất nhiều người trong số họ sẽ phải làm những công việc không phù hợp với những đặc điểm tâm lý của họ. Trải qua thời gian thì những yêu cầu nghề nghiệp đối với con người cũng đã thay đổi: điều hành kỹ thuật cao đòi hỏi phải khéo léo và thận trọng, các sự cố trong sản xuất đã đem đến cho các nhà tư bản những tổn thất nặng nề, những sai sót trong việc tuyển lựa công nhân, việc chọn lựa những nhân viên thiếu năng lực, việc đào tạo nhân viên có tay nghề kém đã dẫn đến những giảm sút lớn về kinh tế…. Điều đó cho ta thấy rằng nếu trong khi tiếp nhận một nguồn lực vào lao động sản xuất mà không tính đến năng lực cá nhân của họ, không kiểm tra sự phù hợp của họ đối với nhu cầu nghề nghiệp thì không thể giữ được sự bình ổn sản xuất chứ chưa nói tới nâng cao năng suất lao động (C. Angghen 1959; theo Nguyễn Văn Hộ & Nguyễn Thị Thanh Huyền 2006).
Năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách nhan đề “Hướng dẫn lựa chọn nghề”. Vào đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Ở nước Nga xuất bản cuốn sách về hướng nghiệp có tựa đề “Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình ĐH tổng hợp”, trong đó nêu rõ ý nghĩa khi lựa chọn nghề khi thi vào trường ĐH được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1897. Nhưng việc chọn nghề ở nhiều nước trên thế giới chỉ giới hạn trong sự bất bình đẳng xã hội.
Tất cả những tác phẩm về hướng nghiệp chỉ nhằm mục đích tăng cường lợi nhuận qua việc bóc lột tối đa sức lực của người lao động. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX thì công tác hướng nghiệp được triển khai trên đất nước Xô viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ. Năm 1930, ở Maxcơva đã thành lập phòng thí nghiệm trung ương về tư vấn nghề và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Lênin. Hoạt động tư vấn này sẽ giúp cho tuổi trẻ hiểu rằng muốn cho đất nước ổn định và phồn vinh thì không chỉ cần sự đóng góp sức lực và khả năng của mình mà còn giúp cho mỗi người lựa chọn vị trí trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội phù hợp với đặc điểm tâm lý và năng lực về kỹ năng, kỹ xảo lao động nghề nghiệp.
Dựa vào các quan điểm trên thì ta có thể thấy rằng nếu sớm thực hiện hướng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó là cơ sở giúp cho họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. Vậy “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp tâm lý- giáo dục, y học, Nhà nước giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với năng lực của bản thân” (Platônốp 1996; theo Nguyễn Văn Hộ & Nguyễn Thị Thanh Huyền 2006). Hoặc “Hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” (Phạm Tất Dong 1989; theo Phạm Văn Khanh 2012). Như vậy, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp sư phạm nhằm giúp thế hệ trẻ làm quen với các ngành nghề phổ biến trong xã hội, để các em có thể lựa chọn nghề nghiệp cho mình một cách tốt nhất trên cơ sở phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng cá nhân.3 Giáo dục hướng nghiệp 2.1 Quan điểm truyền thống và quan điểm mới về GDHN - Quan điểm truyền thống: theo quan điểm này, GDHN gắn với khâu chọn nghề.
Về phạm vi, GDHN chỉ diễn ra ở trường phổ thông. Về đối tượng, là học sinh phổ thông nhưng chủ yếu là học sinh THCS đến hết cấp THPT. - Quan điểm mới: theo quan điểm này, GDHN gắn liền với quá trình phát triển nghề nghiệp gồm có chọn nghề và thích ứng nghề. Về phạm vi, công tác GDHN không chỉ diển ra ở trường phổ thông mà ở cả trường dạy nghề và trường TCCN, CĐ, ĐH và cả ở những cơ sở sản xuất kinh doanh.
Về đối tượng, bao gồm cả học sinh phổ thông, học sinh học nghề và TCCN, sinh viên CĐ, ĐH và cả người lớn tuổi học thêm nghề hoặc chuyển đổi nghề do thay đổi công nghệ, cổ phần hóa doanh nghiệp, môi trường sống…(Phạm Văn Khanh 2012) 2.2 Ý nghĩa của công tác GDHN - Ý nghĩa giáo dục: GDHN là một bộ phận của công tác giáo dục. Đây là công tác điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp cho các em theo xu thế nhu cầu lao động xã hội và sự phân công lao động xã hội. Tác động của giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Kết quả của GDHN là giúp học sinh chọn nghề trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng của bản thân, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh gia đình của mình và phù hợp với nhu cầu xã hội… - Ý nghĩa kinh tế: GDHN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước từ đó nâng cao năng suất lao động xã hội, đồng thời đưa đúng thanh thiếu niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy đúng sở trường lao động.
Phát triển cao hứng thú nghề nghiệp, làm tăng khả năng sáng tạo trong lao động. Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa trong công tác GDHN. Từ đó, biến nghề nghiệp không chỉ là nơi kiếm sống đơn thuần mà còn là nơi cá nhân thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, cống hiến hết sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước. - Ý nghĩa chính trị - xã hội: GDHN là hoạt động hướng nghiệp có chức năng thực hiện hóa đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, của đời sống xã hội.
GDHN được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục. GDHN sẽ tạo nên yếu tố mới trong con người lao động – yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội. Làm tốt GDHN, sẽ có những lớp người mới đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng và bảo vệ tổ quốc.3 Nội dung của công tác GDHN GDHN phải cung cấp cho học sinh sự hiểu biết về hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt những nghề phổ biến và quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời cũng phải giúp cho học sinh quen biết những nghề chính của địa phương và những nghề có tính chất truyền thống. Ngoài ra, trong các giờ hướng nghiệp cũng phải cho học sinh hiểu biết về các trường nghề, TCCN… Nội dung GDHN là giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp, thấy rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội, đánh giá đúng những khó khăn và thuận lợi của đất nước, của địa phương nhằm tạo ra cho mình tâm lý sẵn sàng để đi vào nghề.
Nội dung GDHN phải khơi dậy chí hướng và hứng thú nghề nghiệp cho học sinh vì đây được coi như “một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp nghề của con người”. Nội dung GDHN tiến hành trong các bộ môn khoa học cơ bản sẽ tạo cho học sinh có điều kiện hiểu được sự vận dụng tri thức trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, thấy rõ tiềm năng và triển vọng của địa phương, của đất nước đối với sự phát triển kinh tế và tương lai của một số ngành nghề. Đồng thời hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi.4 Nhiệm vụ của GDHN trong nhà trường THPT - Nâng cao nhận thức nghề nghiệp cho học sinh phù hợp với trình độ phát triển tâm lý và lứa tuổi các cấp học, đầu tiên là qua hướng nghiệp học sinh được làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ngay tại địa phương. Đồng thời, học sinh còn phải biết những yêu cầu tâm lý, sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào nghề và học nghề.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội nhằm bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề nghiệp cho học sinh. Đối với học sinh phổ thông, con đường hình thành năng lực thích ứng nghề nghiệp là tổ chức lao động sản xuất và dạy nghề. - Giáo dục cho học sinh thái độ tôn trọng người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm, bảo vệ của công. - Thực hiện xã hội hóa GDHN nhờ việc phối hợp, liên kết các tổ chức, các cơ sở sản xuất nằm trong các thành phần kinh tế ngoài xã hội.4 Tư vấn hướng nghiệp Có thể nói tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động cực kỳ quan trọng không thể thiếu ở các trường THPT nhằm giúp học sinh nâng cao sự hiểu biết về nghề nghiệp và điều chỉnh xu hướng lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp với sở thích, nguyện vọng của bản thân và quá phát triển chung của đất nước.