Chương 1 trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đã công bố và có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến những nội dung nghiên cứu mà tác giả thực hiện. Qua đó, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 10 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Ngành kế toán Ngành đào tạo là một tập hợp những kiến thức và kỹ năng chuyên môn của một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, khoa học nhất định (Luật giáo dục đại học, 2012); chuyên ngành đào tạo là một tập hợp những kiến thức và kỹ năng chuyên môn chuyên sâu của một ngành đào tạo (Khoản 4 – Điều 4 Luật giáo dục đại học, 2012). Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động (Theo khoản 8 Điều 3 Luật kế toán, 2015).
Nói chuyên sâu hơn, kế toán là ngành thực hiện quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động tài sản trong doanh nghiệp, tổ chức, từ đó cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho việc đưa ra những quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả các hoạt động trong doanh nghiệp.2 Qúa trình ra quyết định chọn ngành Theo N. Gregory Mankiw: “Quá trình ra quyết định của cá nhân được định hướng bởi sự tối đa hóa tính hữu ích trong một lượng ngân sách hạn chế”. Theo Philip Kotler (2001) quá trình thông qua quyết định lựa chọn của khách hàng diễn qua 05 giai đoạn sau: Nhận thức Thu thập Đánh giá các Thực hiện nhu cầu thông tin liên lựa chọn quyết định quan Đánh giá lựa chọn sau khi ra quyết định Hình 2. Strategic Marketing for Educational Institutions, (2nd ed.), ew Jersey, Prentice Hall, USA.
11 Cũng giống như quy trình quyết định mua hàng, quá trình ra quyết định chọn ngành học cũng trải qua 05 giai đoạn: Nhận thức nhu cầu, Thu thập thông tin liên quan, Đánh giá các lựa chọn, Thực hiện quyết định và Đánh giá lựa chọn sau khi ra quyết định. Nhận thức nhu cầu Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua nhận thức được một vấn đề hay một nhu cầu, nhu cầu này xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, vì thế, trong đời sống hàng ngày, khi vấn đề này nảy sinh, người tiêu dùng tự nhận thức được nhu cầu và mong muốn thỏa mãn nhu cầu đó. Khi người học bắt đầu có suy nghĩ hướng đi cho tương lai như: ngành nghề và công việc muốn theo đuổi. Hướng đi của người học có thể đã hình thành ước mơ từ nhỏ, từ những năng khiếu, sở thích, tính cách, cũng có thể do tác động từ người thân, bạn bè….
Thu thập thông tin liên quan Khi đã xác định được nhu cầu, người học sẽ thực hiện việc tìm kiếm thông tin, những nguồn thông tin mà người học có thể tiếp cận từ gia đình, thầy cô, bạn bè, người quen, các tin quảng cáo, website, các chương trình tư vấn tuyển sinh…. Các nguồn thông tin chính mà người học sẽ tìm hiểu, bao gồm 04 nhóm: - Cá nhân: gia đình, bạn bè, người quen… - Quảng cáo: các tin quảng cáo, trang website,.… - Công chúng: Truyền thông đại chúng, các tổ chức đánh giá về chất lượng… - Trải nghiệm: đã sử dụng qua, người thân đã sử dụng…. Đánh giá các lựa chọn Thông qua việc tiếp cận các nguồn thông tin, người học sẽ hình thành niềm tin và thái độ, những điều này sẽ tác động đến hành vi quyết định chọn ngành học của người học. Niềm tin là suy nghĩ mô tả về một điều gì đó của một người, thái độ là các đánh giá yêu thích và không yêu thích, cảm giác và xu hướng hành động.
Do người học có những nguồn thông tin khác nhau và những suy nghĩ khác nhau dẫn đến các quyết định chọn lựa khác nhau. Thực hiện quyết định Tại một thời điểm nào đó trong quá trình quyết định chọn lựa ngành học, người học sẽ phải dừng việc tìm kiếm lại và đánh giá thông tin liên quan đến những lựa chọn cùng loại trong tập hợp chuẩn đánh giá và đưa ra một quyết định chọn lựa. Như là một 12 kết quả của giai đoạn đánh giá tương quan, người học có thể phát triển thành ý định chọn hay xu hướng chọn ngành học nào đó, ý định chọn ngành học thường dựa trên việc nắm bắt những động cơ với các thuộc tính hay đặc điểm của ngành học trong tập hợp đánh giá, quá trình này đòi hỏi một vài tiểu quá trình cá nhân, như động cơ, nhận thức, hình thành thái độ, và tích hợp. Đánh giá lựa chọn sau khi ra quyết định Sau khi quyết định chọn ngành học, người học có thể trải nghiệm sự bất đồng từ việc nhận biết được các đặc điểm đáng lo ngại nào đó hoặc nghe được những điều tốt đẹp về các ngành học khác và sẽ nghi ngờ thông tin đã hỗ trợ cho quyết định chọn ngành của mình.
Hoạt động truyền thông, tiếp thị nên đem lại niềm tin và các đánh giá củng cố quyết định của người học, đồng thời giúp người học cảm nhận các điểm tốt của quyết định chọn ngành mà mình đã chọn, các phòng ban chức năng cần theo dõi mức độ hài lòng sau khi cung cấp dịch vụ.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành 2.1 Đặc điểm chuyên ngành lựa chọn Trong nghiên cứu của D.Chapman (1981) cho rằng các vấn đề mang tính chất đặc điểm mang tính chất đặc thù có liên quan đến quyết định chọn lựa của người học, bao gồm: chương trình có các học phần hấp dẫn, đa dạng, dễ tiếp thu, kiến thức bổ sung nhau và phân bổ phù hợp; đội ngũ giảng viên có danh tiếng; nhiều cơ hội việc làm; tầm quan trọng của ngàng nghề, điều này có nghĩa là những ngành học của trường được hỗ trợ học các điều kiện học tập trên tốt hơn thì thí sinh có xu hướng lựa chọn nhiều hơn. Đối với trường cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức, các chuyên ngành đào tạo khá giống nhau về chỗ học, ký túc xá, học phí…tuy nhiên cũng có các điểm khác nhau như: có chuyên ngành hầu hết giảng viên có danh tiếng, đều có kinh nghiệm làm thực tế tại các doanh nghiệp, sự cần thiết của ngành nghề trong thị trường lao động, các học phần hấp dẫn, tiếp thu tốt, bổ sung lẫn nhau và phân bố hợp lý. Dựa trên cơ sở yếu tố đặc điểm chuyên ngành lựa chọn, tác giả đưa ra giả thuyết H1 như sau: 13 Giả thuyết H1: Đặc điểm chuyên ngành lựa chọn có mối quan hệ cùng chiều dương với quyết định chọn ngành kế toán của SV khoa TCKT trường cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức.2 Nỗ lực giao tiếp của khoa chuyên ngành Nỗ lực giao tiếp của khoa chuyên ngành liên quan đến các hoạt động tạo liên kết của khoa, nhà trường với các thí sinh, SV có nhu cầu chọn ngành, nghề, trường phù hợp. Các khoa chuyên ngành phải tổ chức các buổi tư vấn hướng nghiệp nhằm giới thiệu về năng lực đào tạo, những cam kết hỗ trợ từ phía khoa, sự nhiệt tình giúp đỡ SV.
Các thông tin về chuyên ngành như chương trình đào tạo, mức độ hấp dẫn của chuyên ngành, cơ hội việc làm…là những thông tin mà người học quan tâm. Các khoa chuyên ngành tư vấn, cung cấp thông tin kịp thời sẽ có tác dụng định hướng ngay từ đầu cho thí sinh có nhiều nguồn lực để đưa ra quyết định. Khoa TCKT tạo liên kết với thí sinh có nhu cầu chọn học thông qua nhiều kênh thông tin như: các hoạt động tư vấn tuyển sinh tại chỗ, tư vấn dưới cờ, quảng bá trên website của khoa, phương tiện truyền thông (tivi, radio…), báo, tạp chí, các tài liệu in ấn… Nghiên cứu của D.Chapman (1981) đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Nỗ lực giao tiếp của khoa chuyên ngành đến quyết định chọn ngành, chọn trường của SV. Vì thế, chất lượng thông tin và sự sẵn sàng của thông tin trong tài liệu có sẵn như website hay các tài liệu in ấn khác sẽ là một hỗ trợ không nhỏ trong quyết định chọn chuyên ngành của SV.
Dựa trên cơ sở yếu tố đặc điểm chuyên ngành lựa chọn, tác giả đưa ra giả thuyết H2 như sau: Giả thuyết H2: Nỗ lực giao tiếp của khoa chuyên ngành có mối quan hệ cùng chiều dương với quyết định chọn ngành kế toán của SV khoa TCKT trường cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức.3 Các cá nhân ảnh hưởng Theo lý thuyết hành vi tiêu dùng các nhóm tham khảo của một người là tất cả các nhóm có tác động trực tiếp (mặt đối mặt) hoặc gián tiếp đến thái độ và hành vi của người đó. Các nhóm có tác động trực tiếp gọi là các nhóm thành viên, một vài nhóm trong số này gọi là nhóm cận thiết (primary group) bao gồm những người tương tác khá liên tục và thân thiết với cá nhân, chẳng hạn như gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, con người cũng phụ thuộc vào các nhóm sơ thiết (secondary group), chẳng hạn 14 như nhóm tôn giáo, nghề nghiệp, các nhóm đoàn thể kinh doanh, thường có xu hướng tương tác trang trọng hơn và ít thường xuyên hơn. Các cá nhân ảnh hưởng đề cập đến các thành viên như: cha, mẹ, anh, chị, thầy/cô, bạn bè cùng lớp, bạn bè đã học giới thiệu ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành của thí sinh. Kết quả nghiên cứu D.Chapman (1981) cho thấy sự mong muốn, định hướng của người thân (cha, mẹ, anh, chị) ảnh hưởng đến quyết định đăng ký chọn ngành của người học, sự định hướng của người thân trong gia đình có thể là do người thân đã có sẵn việc làm cho họ khi ra trường; hoặc kinh nghiệm đi trước về thị trường lao động khuyên nhủ người học; sự tham khảo ý kiến của bạn bè, những người đã đi làm cũng sẽ ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành, trường của SV.
Dựa trên cơ sở yếu tố đặc điểm chuyên ngành lựa chọn, tác giả đưa ra giả thuyết H3 như sau: Giả thuyết H3: Các cá nhân ảnh hưởng có mối quan hệ cùng chiều dương với quyết định chọn ngành kế toán của SV khoa TCKT trường cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức.4 Tương thích đặc điểm cá nhân Theo lý thuyết hành vi tiêu dùng đề cập đến các đặc điểm cá nhân bao gồm tuổi tác và giai đoạn trong cuộc sống, nghề nghiệp và tình hình kinh tế, tính cách và tự nhận thức, phong cách sống và các giá trị.