MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đầu năm 2018, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố kết quả nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em - thanh thiếu niên Việt Nam. Theo đó, có đến 8-29% đối tượng được nghiên cứu (11 đến 24 tuổi) gặp vấn đề sức khỏe tâm thần chung (tùy theo tỉnh thành, giới…), và hiện có khoảng 3 triệu trẻ em, thanh thiếu niên có nhu cầu về những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến ở các em thường ở hướng nội (lo âu, trầm cảm, cô đơn…) hoặc hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý…).
Nghiên cứu dựa trên khảo sát 10.000 người được tiến hành sau khi có nhiều ý kiến tỏ ra lo ngại rằng tình trạng lo sợ về cô đơn ở giới trẻ đang trở thành vấn đề lớn của xã hội. Kết quả, người ta thấy rằng sống với ô nhiễm không khí tăng tỉ lệ tử vong lên 5%, đối với béo phì là 20%, lạm dụng rượu bia là 30%. và khi sống cô độc, con số này là 45% [24]. Lứa tuổi đầu thanh niên (18 - 25) theo học thuyết của Erikson nằm ở giai đoạn “Gắn bó và cô lập”.
Giai đoạn này con người tìm kiếm các mối quan hệ có sự gắn bó lâu dài với người nào đó ngoài gia đình. Hoàn thành thành công giai đoạn này có thể tạo ra các mối quan hệ thoải mái và cảm giác gắn bó, an toàn, và có được tình yêu. Nếu không có được sự yêu thương, con người có xu hướng tự cô lập, vị kỷ, say mê với chính mình [27]. Việc sống tự cô lập không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tình thân của bản thân, mà còn ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội, tiêu tốn phúc lợi và thậm chí làm trì trệ nền tài chính quốc gia.
Những biểu hiện của người tự cô lập cho thấy họ không quan tâm đến việc chăm sóc bản thân, thu mình lại với các mối quan hệ xã hội, thậm chí ở mức độ nặng là sẽ giam mình trong nhà trong thời gian dài - đây cũng là nguyên nhân xã hội thiếu hụt nguồn nhân lực cả về lao động lẫn tri thức. Ở Nhật Bản, Hikikomori - một tên gọi khác của tự cô lập do ràng buộc văn hóa - được nghiên cứu sâu và đã có đề xuất xem đây là một chứng rối loạn tâm thần đưa vào DSM-V [15]. Điều này cho thấy các vấn đề về hành vi lệch chuẩn ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, và từ nhiều góc độ thì “tự cô lập” là một hành vi tuy không mới, nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu đúng mực, nhất là ở Việt Nam. 1 Sinh viên là những người thuộc lứa tuổi đầu thanh niên, vừa là những người đang mưu cầu hạnh phúc, lại là lực lượng nòng cốt góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng xã hội.
Việc nghiên cứu và đánh giá mức độ, biểu hiện của các loại hành vi tự cô lập ở sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thay đổi các nhìn nhận đúng đắn hơn về vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần và nâng cao các kỹ năng xã hội cần thiết. HCM là nơi có nhiều trường Đại học chất lượng cao ở khu vực phía Nam, nơi sản sinh nguồn nhân lực tri thức đáp ứng cho nhu cầu phát triển xã hội. Trên thực tế bên cạnh những hậu quả được nghiên cứu như hành vi nghiện, hành vi tự hủy hoại bản thân… đến tâm sinh lý của bộ phận sinh viên, ảnh hưởng từ hành vi tự cô lập lại đang làm sức khỏe tinh thần và lối sống của lứa tuổi năng động này mai một đi một cách âm thầm. Việc tìm hiểu về hành vi tự cô lập của sinh viên, không chỉ tạo nên một hướng đi mới trong nghiên cứu ban đầu mà còn góp phần thúc đẩy mọi người có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về dạng hành vi lệch chuẩn mới này - từ đó có những biện pháp chăm sóc sức khỏe tinh thần và cải thiện lối sống, mối quan hệ xã hội, đầu tư vào nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả.
Từ những cơ sở trên, đề tài “Hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng hành vi tự cô lập của sinh viên tại một số trường Đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn TP. - Phân tích thực trạng hành vi tự cô lập của sinh viên.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu Sinh viên đại học tại một số trường trên địa bàn TP. Đối tượng nghiên cứu Hành vi tự cô lập của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5.
Giới hạn về nội dung nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về hành vi tự cô lập ở sinh viên thông qua biểu hiện ở các mặt nhận thức, thái độ và hành vi. Tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến hành vi tự cô lập của sinh viên. Giới hạn về khách thể nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trên sinh viên tại các trường đại học như: Đại học Kiến trúc TP. HCM; Đại học Ngoại ngữ - Tin học (HUFLIT); Đại học Sư phạm TP.
HCM; Đại học Công nghệ TP. HCM (HUTECH); Đại học Bách khoa TP. Giả thuyết nghiên cứu Biểu hiện của hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường Đại học trên địa bàn TP. HCM ở mức trung bình, thể hiện cao nhất ở mặt thái độ và thấp nhất ở mặt hành vi.
Hành vi tự cô lập có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa giới tính, học lực và điểm rèn luyện của sinh viên. Một số nguyên nhân dẫ đến hành vi tự cô lập do bị lạm dụng/ bạo hành cảm xúc (trêu chọc, đánh giá, phê bình, chế giễu, tẩy chay, chì chiết, bị cô lập…) hoặc không thích ứng được với môi trường mới (Trường Đại học, nơi làm việc, ngoài xã hội…). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp luận 7.
Quan điểm hệ thống - cấu trúc Quan điểm hệ thống - cấu trúc được vận dụng như là phương hướng cho toàn bộ quá trình xây dựng khung lý thuyết, xác lập khái niệm công cụ dưới dạng định nghĩa chỉ báo cũng như xây dựng bảng hỏi theo cấu trúc đã được xác lập. Cấu trúc nhận thức, thái độ và hành động cũng như mối quan hệ giữa 3 thành tố này được xem là 3 mặt chỉ báo nghiên cứu xuyên suốt cho khung lý luận, thang đo và nghiên cứu thực tiễn của đề tài. Quan điểm thực tiễn Hành vi tự cô lập của sinh viên được xem xét như một dạng hành vi được hình thành, nảy sinh trên cơ sở thực tiễn chịu những tác động tiêu cực từ phía các mối quan hệ trong đời sống của chủ thể. Nghiên cứu hành vi tự cô lập của sinh viên phải nghiên cứu thông qua thực tiễn các mặt của hoạt động trong đời sống xã hội của sinh viên như sinh hoạt, học tập và tham gia các hoạt động xã hội.
Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận a. Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận về hành vi tự cô lập của sinh viên ở một số trường Đại học tại TP. Cách thực hiện: + Tập hợp các tài liệu có liên quan.
+ Phân tích tài liệu thành từng đơn vị kiến thức. + Khái quát thành một hệ thống lý thuyết riêng phù hợp cho đề tài. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi a.
Mục đích: + Khảo sát tự nhận thức và nhận thức của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn TP. HCM về hành vi tự cô lập. + Khảo sát mức độ hành vi tự cô lập của sinh viên. + Đánh giá sự tác động các yếu tố hình thành nên mối quan hệ nguyên nhân - kết quả của hành vi tự cô lập.
Xây dựng phiếu hỏi: Phiếu hỏi được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và các yêu cầu cơ bản về kỹ thuật soạn thảo công cụ nghiên cứu. Tóm lại, đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính. Các phương pháp còn lại nhằm mục đích hỗ trợ quá trình nghiên cứu. Các phương pháp này được sử dụng đồng bộ, phối hợp một cách hệ thống trong suốt quá trình nghiên cứu 4 7.
Phương pháp thống kê toán học a. Mục đích: Sử dụng phương pháp này để xử lý và phân tích các số liệu thu được từ bảng hỏi nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu và sử dụng như công cụ quy chiếu cho việc xây dựng bảng phân loại mức độ hành vi tự cô lập. Cách thực hiện: + Thống kê kết quả bảng hỏi, xử lý thô bằng chương trình SPSS 20. + Tính tỉ lệ phần trăm, thống kê tần số, điểm trung bình, xếp hạng và crosstab.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CÔ LẬP Ở SINH VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi tự cô lập của sinh viên 1. Những nghiên cứu về hành vi tự cô lập của sinh viên trên thế giới Tuy được nhận định là biểu hiện của trầm cảm hoặc các bệnh tâm lý khác, một lượng đáng kể các trường hợp tự cô lập không đáp ứng các tiêu chí cho bất kỳ rối loạn 1 2 tâm thần hiện có theo chuẩn DSM-V hay ICD-10. Từ những hậu quả mang lại, hành vi tự cô lập đã bắt đầu nhận được sự quan tâm từ cộng đồng Tâm lý học - Xã hội học, Y học… trên thế giới hơn nửa thế kỷ gần đây.
Các nghiên cứu chuyên sâu về hành vi này cũng theo đó được xác lập. Có thể kể đến một số hướng nghiên cứu tiêu biểu sau: Về lãnh vực Tâm lý học, đã có những công trình xuất hiện từ sớm. Tiêu biểu trong đó là Học thuyết phát triển tâm lý của nhà tâm lý học Erik Erikson (1959). Mong muốn gần gũi (Intimacy) và hành vi tự cô lập (Isolation) đã được mô tả trong quan điểm của Erik Erikson về giai đoạn phát triển thứ 6 (độ tuổi 19-40) của con người.
Ông tin rằng con người đôi khi bị cô lập vì mong muốn được gần gũi. Chúng ta sợ bị những hành động khước từ như quay lưng, phản bộ, từ chối tình cảm hay chấm dứt mối quan hệ.