Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên Nguyễn Lê Bảo Hoàng thực hiện dưới sự hướng dẫn của NCS. Đỗ Tất Thiên (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên ngành Tâm lý học, năm 2018) tiếp cận một dạng hành vi lệch chuẩn xã hội đang có chiều hướng gia tăng trong giới trẻ nhưng chưa được nghiên cứu độc lập và toàn diện tại Việt Nam.

Tác giả đặt vấn đề dựa trên các dữ liệu thực tiễn và lý luận:

  • Báo cáo đầu năm 2018 của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chỉ ra có từ 8% đến 29% trẻ em và thanh thiếu niên (11–24 tuổi) tại Việt Nam gặp vấn đề sức khỏe tâm thần chung, tương đương khoảng 3 triệu người có nhu cầu chăm sóc tâm lý xã hội. Các biểu hiện hướng nội phổ biến gồm lo âu, trầm cảm, cô đơn.
  • Các khảo sát dịch tễ học và xã hội học quốc tế cho thấy tác động tiêu cực của tình trạng cô độc đến sức khỏe: sống cô độc làm tăng nguy cơ tử vong sớm lên tới 45% (so với béo phì 20%, lạm dụng rượu bia 30%, ô nhiễm không khí 5%).
  • Theo học thuyết phát triển tâm lý của Erik Erikson, lứa tuổi 18–25 thuộc giai đoạn "Gắn bó và cô lập" (Intimacy vs. Isolation). Thất bại trong việc thiết lập các mối quan hệ thân mật dẫn tới xu hướng tự cô lập, vị kỷ, thu mình.
  • Tại Việt Nam, sinh viên chuyển tiếp từ phổ thông lên đại học tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với áp lực thích nghi môi trường mới, sự bùng nổ của mạng xã hội, các biểu hiện nghiện hành vi và nguy cơ suy giảm sức khỏe tinh thần. Tuy nhiên, hành vi tự cô lập thường bị đánh đồng với trầm cảm hoặc rối loạn nhân cách tránh né mà chưa được phân tích như một thực thể hành vi độc lập.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Khảo sát thực trạng hành vi tự cô lập của sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, làm rõ biểu hiện ở các mặt nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến hành vi tự cô lập ở sinh viên.
    2. Phân tích thực trạng hành vi tự cô lập của sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thông qua khảo sát thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi tự cô lập của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên chính quy đang theo học tại các trường đại học công lập và ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Biểu hiện của hành vi tự cô lập qua ba chiều kích (nhận thức, thái độ, hành vi) và các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến hành vi.
  • Phạm vi không gian (khách thể khảo sát): 5 trường đại học gồm Đại học Kiến trúc TP. HCM, Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM (HUFLIT), Đại học Sư phạm TP. HCM, Đại học Công nghệ TP. HCM (HUTECH) và Đại học Bách khoa TP. HCM.
  • Thời gian thực hiện: Năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận

Nghiên cứu vận dụng phối hợp các khung lý luận tâm lý học - xã hội học chuyên ngành:

  • Quan điểm bản chất hành vi: Tiếp cận quan điểm tâm lý học hoạt động của A. N. Leontiev, S. L. Rubinstein, Phạm Minh Hạc, Dương Thiệu Tống, Vũ Dũng; xác định hành vi là chuỗi hành động lặp đi lặp lại, có sự thống nhất giữa biểu hiện bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong.
  • Lý luận về hành vi lệch chuẩn: Dựa trên định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tiêu chuẩn chẩn đoán trong Cẩm nang Thống kê và Chẩn đoán Rối loạn Tâm thần (DSM-IV, mã mục 312-8). Vận dụng 7 thuộc tính xét đoán tính bất thường của hành vi theo Rosenhan & Seligman (1984), trong đó tác giả xác định thuộc tính then chốt đối với hành vi tự cô lập là tính thích nghi kém.
  • Thuyết phát triển tâm lý: Học thuyết phát triển tâm lý cá nhân của Erik Erikson (1959) về giai đoạn trưởng thành sớm và khái niệm "sự xa cách" (distantiation).
  • Các nghiên cứu bệnh lý và hội chứng tương đồng: Hiện tượng Hikikomori tại Nhật Bản (Kasahara, Saito, Lock), rối loạn nhân cách tránh né (AvPD theo DSM-IV), hiện tượng tâm lý sợ bỏ lỡ (FOMO), nghiên cứu tâm bệnh lý trẻ em và thanh thiếu niên của BS. Nguyễn Khắc Viện (1996).
  • Mô hình hành vi tự cô lập do tác giả đề xuất: Mô hình giải thích cơ chế hình thành hành vi tự cô lập từ các nguyên nhân gốc rễ (cô đơn kéo dài, bị bỏ rơi/chia cách, bị xâm hại/bạo hành, thiếu kỹ năng sống/nghề nghiệp) qua vòng lặp "cải thiện - thất bại" đến khi hình thành hành vi né tránh xã hội cố định.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu khoa học trong và ngoài nước để xây dựng khái niệm công cụ, hệ thống chỉ báo và tiêu chí đánh giá.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chính): Tiến hành theo quy trình 3 giai đoạn:
    1. Khảo sát sàng lọc ban đầu bằng câu hỏi mở và bộ 9 tiêu chí chỉ báo nhằm nhận diện nhóm sinh viên có biểu hiện tự cô lập.
    2. Thiết kế, xin ý kiến chuyên gia và thử nghiệm bảng hỏi chính thức.
    3. Khảo sát chính thức trên tập mẫu đã qua sàng lọc. Thang đo thiết kế theo cấu trúc Likert 5 mức độ (Không có - Ít - Bình thường - Nhiều - Rất nhiều) gồm 64 chỉ báo chia làm 3 phân lượng: Nhận thức (25 chỉ báo), Xúc cảm/thái độ (19 chỉ báo), Hành vi/hành động (20 chỉ báo). Thang đo đạt độ tin cậy nội tại cao với hệ số Cronbach's Alpha tổng thể là 0.926 (Nhận thức: 0.914; Xúc cảm/thái độ: 0.923; Hành vi: 0.926).
  • Phương pháp thống kê toán học: Nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0; sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, xếp hạng) và thống kê suy luận (kiểm định khác biệt ANOVA, kiểm định sâu Tamhane post-hoc, hệ số tương quan).

Nguồn dữ liệu và phân bố mẫu khảo sát

Tổng mẫu khảo sát ban đầu gồm 483 sinh viên tại 5 trường đại học. Sau bước sàng lọc theo bộ tiêu chuẩn (có từ 3 dấu hiệu trở lên), chọn ra 385 sinh viên (chiếm 79.7% tổng mẫu) để khảo sát chuyên sâu:

STT Trường Đại học Loại hình Số lượng khảo sát (SV)
1 Đại học Kiến trúc TP. HCM Công lập 75
2 Đại học Bách khoa TP. HCM Công lập 71
3 Đại học Sư phạm TP. HCM Công lập 75
4 Đại học Công nghệ TP. HCM (HUTECH) Ngoài công lập (Dân lập) 85
5 Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM (HUFLIT) Ngoài công lập (Dân lập) 79
Tổng 5 trường đại học tại TP. HCM 385

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hành vi tự cô lập ở sinh viên

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, mô hình và tiêu chuẩn nhận diện hành vi tự cô lập:

  • Lịch sử nghiên cứu: Tổng quan các hướng nghiên cứu trên thế giới từ góc độ tâm lý học (Erikson, Fromm-Reichmann), y sinh học (nghiên cứu PNAS 2015 về biến đổi gen và bạch cầu dưới tác động của cô lập xã hội; nghiên cứu của Đại học Rice, Đại học Brigham Young), xã hội học (Robert Putnam với Bowling Alone) và hội chứng Hikikomori tại Nhật Bản. Tại Việt Nam, tác giả chỉ ra các nghiên cứu trước đây (như công trình của BS. Nguyễn Khắc Viện năm 1996) chủ yếu xem sự cô đơn, thu mình là triệu chứng phụ của trầm cảm hoặc rối loạn lo âu, chưa định danh thành một hành vi độc lập.
  • Xác lập định nghĩa: Tác giả định nghĩa: "Hành vi tự cô lập của sinh viên là hành vi sinh viên duy trì việc sống tách biệt với mọi người, né tránh hoặc từ chối thiết lập quan hệ (mới) với người khác, ưu tiên sử dụng các phương thức giao tiếp trực tuyến hơn trực diện hay có thể hiểu đây là một biểu hiện của sự cô đơn kéo dài, kết quả của trầm cảm hoặc các vấn đề tâm lý khác. Hành vi tự cô lập gây ra sự đau khổ đáng kể về mặt tinh thần, làm thay đổi chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lãnh vực quan trọng khác."
  • Hệ thống tiêu chí xét đoán: Dựa trên DSM-IV và DSM-V, tác giả xây dựng 5 tiêu chuẩn (từ A đến E):
    • Tiêu chuẩn A: Có ít nhất 3 trong 9 nhóm triệu chứng nhận thức, cảm xúc, hành vi thu mình.
    • Tiêu chuẩn B: Thời gian kéo dài tối thiểu 4 tuần (thanh thiếu niên) hoặc 6 tháng (người trưởng thành).
    • Tiêu chuẩn C: Gây suy giảm rõ rệt các chức năng xã hội, học tập, sinh hoạt.
    • Tiêu chuẩn D và E: Không bị giải thích bởi rối loạn tâm thần khác hoặc tác động sinh học trực tiếp của chất kích thích/thuốc.
  • Phân loại mức độ tổn thương: Chia thành 5 cấp độ từ Mức độ 1 (Bộc phát phản ứng), Mức độ 2 (Nhẹ - bắt đầu có ý nghĩ né tránh), Mức độ 3 (Trung bình - lòng tự trọng thấp, lạm dụng mạng xã hội), Mức độ 4 (Nặng - từ chối quan hệ công khai, nghiện hành vi) đến Mức độ 5 (Rất nặng - giam mình trong phòng thời gian dài, nguy cơ rối loạn tâm thần nghiêm trọng).
  • Cấu trúc 3 mặt biểu hiện: Nhận thức (suy nghĩ bản thân không có giá trị, hoài nghi xã hội), Thái độ (xấu hổ, tội lỗi, tự ti, bất an khi tiếp xúc môi trường mới), Hành vi (trốn tránh gặp mặt trực tiếp, đảo lộn sinh hoạt, xuất hiện hành vi nghiện ăn uống/mua sắm/mạng xã hội).

Chương 2: Thực trạng hành vi tự cô lập ở sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn TP. HCM

Chương 2 trình bày kết quả định lượng thu được từ 385 khách thể sinh viên sau sàng lọc:

  • Kết quả khảo sát sàng lọc ban đầu: Tỷ lệ xuất hiện các dấu hiệu tự cô lập trong mẫu khảo sát:
STT Dấu hiệu sàng lọc hành vi tự cô lập Tần số (n=385) Tỉ lệ (%) Thứ hạng
1 Suy nghĩ dai dẳng, mất kiểm soát sinh hoạt, xuất hiện hành vi nghiện để che giấu cô đơn 298 77.4% 1
2 Mệt mỏi hoặc mất năng lượng vì môi trường học tập/làm việc hầu như mỗi ngày 241 62.6% 2
3 Tránh né giao tiếp trực diện, sử dụng mạng xã hội để thay thế kết nối trực tiếp 233 60.5% 3
4 Không muốn ra khỏi nhà, cảm thấy an toàn khi ở một mình 201 52.2% 4
5 Cáu kỉnh, buồn bã, thất vọng, tự ti về ngoại hình/năng lực/xuất thân 172 44.7% 5
6 Thường xuyên lo lắng khi phải xuất hiện hoặc làm việc công khai trước đám đông 127 33.0% 6
7 Không muốn kết giao bạn bè mới, không duy trì quan hệ thông thường 102 26.5% 7
8 Thường xuyên phàn nàn về bản chất tiêu cực của các mối quan hệ xã hội 94 24.4% 8
9 Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc thiếu quyết đoán mỗi ngày 66 17.1% 9
  • Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu:
    • Giới tính: 174 nam (45.2%), 211 nữ (54.8%).
    • Phân bố năm học: Năm nhất (90 SV), Năm hai (93 SV), Năm ba (95 SV), Năm tư (88 SV), Trên năm tư (19 SV).
    • Học lực: Giỏi (65 SV), Khá (187 SV), Trung bình (126 SV), Yếu (7 SV).
    • Điểm rèn luyện: Tốt (190 SV), Khá (168 SV), Trung bình (27 SV).
    • Xuất thân gia đình: Kinh doanh (130 SV - 33.8%), Tri thức (102 SV), Công nhân (79 SV), Nghề nông (74 SV).
    • Kinh tế gia đình: Khá (193 SV - 50.1%), Trung bình (131 SV), Cận nghèo (45 SV), Hộ nghèo (16 SV).
  • Nhận thức của sinh viên về hành vi tự cô lập: 321 sinh viên (83.4%) hiểu đúng bản chất hành vi tự cô lập là sự kết hợp của cả 4 biểu hiện: biểu hiện của cô đơn/trầm cảm, không muốn thiết lập/duy trì quan hệ mới, ưu tiên giao tiếp trực tuyến và sống tách biệt với mọi người.
  • Thời điểm khởi phát hành vi:
    • Xuất hiện từ khi là học sinh THPT: 225 SV (58.4%).
    • Xuất hiện từ năm nhất Đại học: 68 SV (17.7%).
    • Khoảng 6–12 tháng gần đây: 61 SV (15.9%).
    • Xuất hiện từ rất lâu không nhớ rõ: 31 SV (8.0%).
  • Các phân tích so sánh và kiểm định: Khóa luận thực hiện phân tích phương sai ANOVA và kiểm định Tamhane chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ biểu hiện hành vi tự cô lập theo các biến số: giới tính, kết quả học lực, điểm rèn luyện, xuất thân gia đình và điều kiện kinh tế gia đình.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện tự cô lập trong mẫu khảo sát ban đầu đạt 79.7% (385/483 sinh viên đáp ứng từ 3 tiêu chí sàng lọc trở lên).
  • Biểu hiện nổi cộm nhất là việc phát sinh các hành vi nghiện hành vi (ăn uống, mua sắm, lướt mạng xã hội quá độ, tình dục không lành mạnh) nhằm khỏa lấp sự cô đơn, chiếm tỷ lệ cao nhất với 77.4%.
  • Hành vi tự cô lập có tính chất tích lũy theo thời gian: đa số sinh viên (58.4%) đã hình thành các mầm mống hành vi và suy nghĩ tự cô lập từ bậc THPT, sau đó tiếp tục gia tăng khi bước vào môi trường đại học do áp lực học tập và thất bại trong thích ứng xã hội.
  • Nghiên cứu xác nhận mối tương quan chặt chẽ giữa 3 mặt nhận thức, thái độ và hành động trong cấu trúc tâm lý của hành vi tự cô lập.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với nhà trường và các cơ sở giáo dục đại học: Cần thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm tham vấn tâm lý học đường; tổ chức các chương trình sàng lọc sớm các rối nhiễu tâm lý cho sinh viên năm nhất; đổi mới phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
  • Đối với gia đình: Tăng cường sự quan tâm, chia sẻ cảm xúc, tránh tạo áp lực thành tích học tập cực đoan hoặc ngăn cấm giao tiếp xã hội lành mạnh từ giai đoạn phổ thông.
  • Đối với bản thân sinh viên: Chủ động nhận diện các dấu hiệu cô đơn lệch chuẩn, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, cân đối thời gian sử dụng internet và tìm kiếm trợ giúp chuyên môn khi xuất hiện khủng hoảng tâm lý.

Đóng góp mới của đề tài

  • Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận hành vi tự cô lập ở sinh viên như một chỉnh thể hành vi lệch chuẩn độc lập, phân biệt với các hội chứng tâm bệnh lý tổng quát.
  • Xây dựng và chuẩn hóa thành công bộ công cụ khảo sát hành vi tự cô lập gồm bảng hỏi sàng lọc và thang đo 64 chỉ báo có độ tin cậy cao (Cronbach's Alpha = 0.926), phù hợp với bối cảnh văn hóa và tâm lý sinh viên Việt Nam.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng định lượng chi tiết về các biểu hiện nhận thức, thái độ, hành vi và các yếu tố nhân khẩu tác động đến hành vi tự cô lập ở sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung tại 5 trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các tỉnh thành khác nên tính khái quát hóa cho toàn bộ sinh viên cả nước còn giới hạn.
    • Công cụ thu thập dữ liệu chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tự báo cáo (self-report), chưa kết hợp sâu với các kỹ thuật phỏng vấn lâm sàng chuyên sâu hoặc can thiệp thực nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu trên phạm vi liên vùng và đa dạng hóa các khối ngành đào tạo (Y dược, Kinh tế, Kỹ thuật, Xã hội nhân văn).
    • Thiết kế và đánh giá hiệu quả của các mô hình can thiệp tâm lý, trị liệu nhận thức - hành vi (CBT) hoặc các chương trình giáo dục kỹ năng xã hội nhằm giảm thiểu hành vi tự cô lập ở sinh viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên các chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội, Xã hội học.
    • Cán bộ quản lý giáo dục, phòng công tác chính trị sinh viên, chuyên viên tham vấn học đường tại các trường đại học, cao đẳng.
    • Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm tài liệu tham khảo về hành vi lệch chuẩn, sức khỏe tâm thần học đường, hội chứng Hikikomori và tác động của mạng xã hội đến giới trẻ.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Khung lý luận về tiêu chuẩn chẩn đoán 5 mức độ và bộ tiêu chí nhận diện hành vi tự cô lập dựa trên DSM.
    • Cấu trúc bảng hỏi sàng lọc 9 tiêu chí và thang đo chi tiết 64 chỉ báo (Nhận thức - Thái độ - Hành vi) có kiểm định Cronbach's Alpha đạt chuẩn.
    • Dữ liệu thống kê thực trạng và các bảng kiểm định phương sai ANOVA/Tamhane trên các nhóm biến nhân khẩu học.

Câu hỏi thường gặp

1. Hành vi tự cô lập trong khóa luận được định nghĩa và phân loại theo những mức độ nào?
Tác giả định nghĩa hành vi tự cô lập là việc duy trì lối sống tách biệt, né tránh hoặc từ chối thiết lập quan hệ mới, ưu tiên giao tiếp trực tuyến hơn trực diện, bắt nguồn từ cô đơn kéo dài hoặc rối nhiễu tâm lý, làm suy giảm chức năng xã hội. Hành vi được phân chia thành 5 mức độ tổn thương: Mức 1 (Bộc phát), Mức 2 (Nhẹ), Mức 3 (Trung bình), Mức 4 (Nặng) và Mức 5 (Rất nặng - giam mình trong phòng kéo dài, nguy cơ rối loạn tâm thần nghiêm trọng).

2. Khảo sát sàng lọc ban đầu ghi nhận tỷ lệ và dấu hiệu tự cô lập nào phổ biến nhất ở sinh viên?
Trong 483 sinh viên khảo sát ban đầu, có 385 sinh viên (79.7%) có từ 3 dấu hiệu tự cô lập trở lên. Dấu hiệu phổ biến nhất (xếp hạng 1) là "Suy nghĩ dai dẳng, mất kiểm soát sinh hoạt, xuất hiện hành vi nghiện (ăn uống, mua sắm, mạng xã hội...) để che giấu cô đơn" với 298 sinh viên (77.4%), tiếp theo là "Mệt mỏi, mất năng lượng vì môi trường học tập/làm việc" với 241 sinh viên (62.6%).

3. Phần lớn sinh viên trong nghiên cứu bắt đầu xuất hiện hành vi tự cô lập từ thời điểm nào?
Số liệu thống kê cho thấy 58.4% sinh viên (225/385 người) đã bắt đầu có suy nghĩ và hành vi tự cô lập từ khi còn là học sinh THPT. Chỉ có 17.7% sinh viên mới bắt đầu xuất hiện hành vi này từ năm nhất đại học, 15.9% xuất hiện trong 6–12 tháng gần thời điểm khảo sát và 8.0% xuất hiện từ rất lâu không nhớ rõ.

4. Khóa luận sử dụng những phương pháp thống kê và thang đo nào để đánh giá độ tin cậy?
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tính điểm trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm định ANOVA và kiểm định sau ANOVA (Tamhane post-hoc). Thang đo Likert 5 mức độ gồm 64 biến quan sát được kiểm định độ tin cậy nội tại Cronbach's Alpha đạt 0.926 (tiểu thang Nhận thức đạt .914, Xúc cảm/thái độ đạt .923, Hành vi đạt .926), không có biến quan sát nào bị loại.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Lê Bảo Hoàng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và xác lập thành công mô hình chẩn đoán hành vi tự cô lập ở sinh viên đại học. Kết quả khảo sát thực tiễn trên 385 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh thực trạng đáng báo động về mức độ thu mình xã hội và xu hướng phát sinh hành vi nghiện để bù đắp sự cô đơn, vốn phần lớn bắt nguồn từ giai đoạn học sinh phổ thông. Đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp hệ thống thang đo chuẩn hóa phục vụ công tác tham vấn tâm lý và chăm sóc sức khỏe tinh thần học đường.