CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ HÀNH VI VƯỢT KHÓ 1. Lịch sử nghiên cứu van dé hành vi vượt khó và các van để có liên quan 1. Một số vấn dé nghiên cứu về hành vi con người Thời đại hiện nay, trước sức ép của cuộc sống, sự chạy đua vẻ công nghệ - kỹ thuật, con người đang phải đổi mặt với nhiều van dé phức tạp liên quan đến thé chất va tinh than, Vi vậy, nghiên cứu tâm lý người trử nên cần thiết hon đẻ hỗ trợ, giúp đỡ con người theo kịp bước tiễn của xã hội. Trong đó phải kể đến van đẻ nghiên cứu hanh vi can người trong cuộc sống, lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Theo AhmadRezaAsadollahi et al. (2012) thi “Phân tích các yêu tổ ảnh hưởng đến dự định hành vi mua sim trực tuyển của người tiêu dùng có thể là một trong những van dé quan trọng nhất của thương mại điện tử va lĩnh vực tiếp thị". Nghiên cứu sử đụng một mé hình kiểm tra sự ảnh hưởng của rủi ro nhận thức, cơ sở vật chat và chính sách hoan trả vẻ thái độ đổi với hành vi mua sim trực tuyến và các quy chuẩn chủ quan, cảm nhận vẻ sự tự chủ trong hành vi, lĩnh vực sáng tạo cụ thé va thai độ vẻ hành vi mua sim trực tuyến. Nghiên cứu tiễn hành khảo sát 200 khách hàng được chọn ngẫu nhiên của các cửa hang trực tuyến ở Iran.
Kết quả nghiên cứu xác định những rủi ro tải chính và rủi ro không giao hang ảnh hưởng tiêu cực đến thai độ đối với mua sam trực tuyển. Nghiên cửu cũng chi ra rằng tinh sáng tạo cụ thể vả các quy chuẩn chủ quan ảnh hưởng tích cực đến hanh vi mua sim trực tuyến. Hon nữa, thai độ cũng anh hướng tích cực đến hanh vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng [33]. Trong nghiên cửu tác động của các mé hình sống, bạo lực của con người trên phim ảnh, trong phim hoạt hình đến hành vi bạo lực của trẻ em trước tuổi học, Bandura đã phát hiện rằng các em được quan sat hanh vi bạo lực trên phim ảnh va trong đời thường đã thẻ hiện tính bạo lực nhiều hơn so với trẻ em ở nhóm đối chứng.
Nghiên cứu đã dé cập đến xu hướng mô hình hóa các hành vi của người được quan sát thành các "mỗ hình” hanh vi của minh; hay nói khác đi là tinh bat chước trong hanh vi của trẻ em (8, tr. Trang một nghiên cửu khảo sát vẻ Hiện tượng học (Phenomenology) của hành vi mua hàng cưỡng bức, các tác giả Q'Guinn va Faber cho thay: tỉ lệ những người có hành vi mua hang cưỡng bức nghiêng nhiều vẻ phía nữ giới, cụ thé là chiếm tới 92% trên tong số mẫu khảo sat [8, tr. Bên cạnh những nghiên cứu vẻ hành vi trên the giới, vẫn để hành vi người ở Việt Nam đang được các nha Tam lý học va các nhà nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác quan tâm: Trong bai viết “Truyền thông thay đổi hành vi — những kinh nghiệm từ việc triển khai một dự an” của tac giả Phạm Văn Quyết có để cập đến van dé can được quan tâm trước het 14 việc phản tích khung lý thuyết vẻ các bước thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi có thể coi như các bậc thang nỗi tiếp nhau.
Ở mỗi bậc thang, đối tượng can cỏ sự hỗ trợ truyền thông dé bước lên các bậc thang tiếp theo cao hơn vả cudi cùng tiền tới thực hiện và duy tri được hành vi mong muon. Năm giai đoạn của quả trình thay đổi hanh vi diễn ra như sau: - Giai đoạn 1: Từ chỗ đổi tượng chưa biết, chưa có ý thức vẻ van đẻ đến có ý thức về van dé (hình thành y thức vẻ van đẻ). - Giai đoạn 2: Từ có ý thức về vẫn dé đến tìm hiểu, chấp nhận van để và học các kỹ năng (tìm hiểu vả chấp nhận vẫn đẻ), - Giai đoạn 3: Từ tìm hiểu, chấp nhận vẫn dé đến có ý định muon giải quyết van dé (mong muon giải quyết vẫn đẻ). - Giai đoạn 4: Tir có ý định muỗn giải quyết van đề den thir thực hiện hanh vi mới (thử thực hiện hảnh vi mới).
- Giai đoạn 5: Từ thử thực hiện hành vi mới đến thực hiện thành công va duy trì hành vi mới (thực hiện thành công va duy tri hành vi mới). Khung ly thuyết chỉ ra rằng việc thay đổi hanh vi điễn ra can có thời gian. Để đi đến mục tiêu cudi cùng của quá trình là thực hiện và duy trì hành vi mới, đối tượng thưởng phải trải qua một số bước trung gian. Trên mỗi bước của các bac thang trung gian đó, đổi tượng có thé dừng lại, từ chỗi các bước tiếp theo, vi: hoặc không quan tam, không hứng thú với vẫn đẻ, hoặc có nhận thức, có quan tâm tới vấn để nhưng lại không tin tưởng, hoặc có quan tâm, có tin tưởng nhưng lại thiểu kỹ năng thực hiện, hoặc khi thực hiện bị that bại nên buồn chán, nan chí và nhiều yếu tô cản trở khác [22, tr.
Tác giả Vũ Dũng nghiên cứu “Một số hành vi ứng xử với mỗi trường không mang tính đạo đức ở nước ta hiện nay”. Một phân kết quả nghiên cửu tại 3 phường Đông Xuân, Thanh Xuân Bắc và Vạn Phúc cho thay: «Hut bể phốt tại nhà vệ sinh: 24.2%; dọn vệ sinh tại khu vực quanh nhà: 0.6%; khai thông cổng rãnh gắn nha: 5.2%; trong cây xanh quanh nhà: 18.6% e Thói quen vứt rac từ các tang cao xuống tại các nha cao tang: có 2.7% cho la phỏ biến, 26.4% cho là thỉnh thoảng, 19.8% cho là hiểm khi va 50.2% cho là không cỏ. « Thói quen đỏ nước từ trên cao xuống tại các nha cao tang: có 2.7% cho là pho biến, 16.1% cho là thỉnh thoảng, 25.2% cho là hiểm khi và 29.6% cho là không Củ. s Thói quen vứt rác ra mọi nơi: cỏ 9.9% cho là phổ biến, 38.6% cho là thỉnh thoảng, 21.9% cho là hiểm khi va 29.6% cho là không có.
« Thói quen trút rắc xuống ao hồ, song ngồi, công rãnh: có 7.0% cho là phd biển, 37.7% cho là thỉnh thoảng, 18.0% cho là hiểm khi và 37.3% cho là không có (31, tr. Có thé dé cập đến khóa luận tốt nghiệp dai học của tác giả Mai My Hanh nghiên cứu “Hanh vi nghiện game online của học sinh một số trường Trung học pho thông tại Thanh phỏ Hồ Chi Minh hiện nay”, Kết qua cho thay, tỷ lệ học sinh có “xu hướng nghiện game online" là 17.42% cho mức “có dau hiệu ban dau nghiện game online” và tổng số hoc sinh Trung học phổ thông trong mẫu nghiên cứu rơi vào mức độ nghiện nhẹ, nghiện vừa va nghiện nặng là 6. Luận văn Thạc sĩ “Biểu hiện rỗi loạn hành vi ở học sinh trung học tại Thanh phổ Tam Ky - Tinh Quảng Nam" của tác giả Văn Bảo Anh Trinh. Kết qua cho thay: Những hành vi học sinh tự đánh giá xảy ra nhiều nhất la “nói đổi” (chiếm tỉ lệ cao nhất với 19.4%), tiếp theo là “để bị kích động, dé nổi khủng” (chiếm tỉ lệ 15.6%), hành vi “sử dụng chất gây nghiện” (chiếm tỉ lệ 11.4%), hành vi nói tục (chiếm tỉ lệ 10.8%) va “đánh nhau” (chiếm tỉ lệ 9.294), Những hành vi it xảy ra ở học sinh là “hanh hạ súc vật” (ti lệ 1.1%) va “bỏ nha” (ti lệ 1.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn với quyền sách “Hanh vi nghiện dưới gúc độ Tam lý học” đã dé cấp đến các vẫn dé ly luận vẻ hành vi, hành vi nghiện, biểu hiện hành vi nghiện, phan loại các hanh vi nghiện. đã dong gop cho một hướng nghiên cứu mới về hanh vi trong các van dé tam lý hoc hiện đại [27]. Trên đây là một số công trình nghiên cứu về hành vi của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng những nghiên cứu về hanh vi vượt khó như một hành vi của con người chưa được quan tam thực hiện nhiễu, 1.
Những nghiên cứu về biểu hiện vượt khó và các van để có liên quan 1. Những nghiên cứu về biểu hiện vượt khé và các vẫn để có liên quan ở nước nguài Van đẻ ý chí, phẩm chất ý chi cũng như sự vượt khó đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Đơn cử một số tác giả tiêu biểu như: Tác gia John Kennedy, trong cuén “Lam thể nào dé phát triển được sức mạnh của ý chí”, đã nghiên cứu những vẫn đề cơ bản về sức mạnh của ý chí, nghiên cứu mỗi quan hệ mật thiết giữa ý chí - lý tưởng vả lòng tự trọng. Đẳng thời, tác giả cũng chỉ ra những yếu to ảnh hưởng đến việc phát huy sức mạnh của ý chi, cách thức rẻn luyện để cd một ý chi kiên cường [5].
Tác gia Stogdill khi nghiên cửu về những phẩm chất của người lãnh đạo đã tổng kết 7 phẩm chat của người lãnh đạo cẳn phải có bao gồm: sự thông minh; hiểu hiết nhu cầu của người khác; hiểu biết nhiệm vụ; tự tin; mong muỗn có trách nhiệm; mong muốn nằm giữ vị trí thống trị và kiểm soát; kiên tri trong việc giải quyết các van dé, Trong 7 phẩm chất trên thi phẩm chất “kiến trì trong việc giải quyết các vẫn dé” la phẩm chất biểu hiện ý chi của người lãnh đạo [10, tr.Gônöbôlin nghiên cứu về những phẩm chất tâm lý của người giáo viên đã nêu lên các phẩm chất tâm lý phù hợp với công việc giảng dạy và giáo dục học 10 sinh của người gido viên bao gẻm: đạo đức, chỉ hướng. hứng thú, năng lực, quá trinh nhận thức, hoạt động trí tuệ, tỉnh cam va phẩm chất ý chỉ {18, tr. Những nghiên cửu vẻ ý chi va pham chat ý chi đã được nghiên cứu sang tỏ dưới nhiều mức độ khác nhau. Các nghiên cứu đều khang định, ý chi là một trong những phẩm chất quan trọng góp phần vào sự thành công của chủ thể hoạt động trong từng lĩnh vực nhất định.
Nghe cảng khỏ khan, gian khổ đòi hỏi sự cần có của ý chí cảng cao. Tuy nhiên những nghiên cửu cụ thể về hành vi vượt khó trong HĐHT ở nước ngoài còn khá hạn chế. Các nha nghiên cửu tap trung vào nghiên cứu những khó khăn trong hoạt động học tập lả chủ yếu. Lĩnh vực này nhận được khá nhiều sự quan tam của các nha Tâm lý học, đơn cử như: Theo Binaka Zazzo cùng cộng sự của bả thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của đại học Paris, 10 công trình nghiên cứu vé bude chuyên từ mẫu giáo lên lớp 12 của trẻ em.