Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán bằng QR – Code qua ứng dụng EMB của ngân hàng TMCP quân đội – chi nhánh quận 12 Chương 2: Xây dựng khung lý thuyết cho mô hình nghiên cứu Chương 3: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng dịch vụ thanh toán bằng QR – Code qua ứng dụng EMB của ngân hàng TMCP quân đội – chi nhánh quận 12. Chương 4: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán bằng QR – Code qua ứng dụng EMB của ngân hàng TMCP quân đội – chi nhánh quận 12. Chương 5: Thảo luận và kiến nghị các giải pháp giúp nâng cao tính hiệu quả của việc nâng cao ý định sử dụng dịch vụ thanh toán bằng QR – Code qua ứng dụng EMB của ngân hàng TMCP quân đội – chi nhánh quận 12 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QR – CODE 2. Tổng Quan Về Dịch Vụ Thanh Toán QR 2.
Quá Trình Phát Triển Dịch Vụ Mobile Banking Tại Việt Nam Trên thế giới quá trình phát triển ngân hàng điện tử bước đầu phát triển vào cuối thế kỉ 19 và có những bước tiến nhảy vọt về quy mô cũng như chất lượng vào đầu những năm 2000. Theo tài liệu khái quát về xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử (Mobille Banking – Global Trends and their Impact on Bank) của KPMG (2015) cho định nghĩa tổng quan về loại hình dịch vụ này là việc thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các thiết bị di động bao gồm điện thoại, máy tính bảng hoặc thiết bị thông minh có kết nối mạng. Trong những năm đầu tiên phát triển thì số lượng những dịch vụ vẫn còn khá ít và bị hạn chế nhiều về phạm vi chức năng, cụ thể khách hàng chỉ có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử để lưu chuyển một số lượng tiền nhất định trong phạm vi nội bộ ngân hàng. Tuy nhiên ở những năm sau này nhờ sự phát triển nhanh chóng của điện thoại thông minh và các thiết bị ngoại vi tại các nước phát triển tạo nên động lực để thúc đẩy loại hình dịch vụ này một cách vượt bậc.
Hiện nay thì dịch vụ ngân hàng điện tử có thể được sử dụng trong mọi mặt của cuộc sống từ thanh toán hàng hóa dịch vụ trực tuyến cho đến việc thanh toán tại các điểm bán lẻ. Việc phát triển các hình thức ngân hàng trực tuyến tại Việt Nam khá trễ so với các nước trên thế giới, từ năm 1994 Ngân hàng ngoại thương (Vietcombank) đưa ra dịch vụ Home – Banking đây là sản phẩm ngân hàng điện tử đầu tiên trên toàn hệ thống. Tiếp sau đó là hàng loạt các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử của các tổ chức tài chính khác nhau ra đời nhằm bắt kịp xu hướng phát triển công nghệ của thế giới nói chung cũng như phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng. Với các ứng dụng nổi bật có thể kể đến như: dịch vụ Phone banking ( thanh toán chuyển tiền thông quan các cuộc gọi) của ngân hàng Á Châu (ACB), HSBC, CitiBank … Cho đến năm 2008 kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hệ thống ngân hàng đã có hàng loạt những cải cách, thay đổi để phát triển tình hình kinh doanh của mình nhằm hạn chế những rủi ro đến từ việc mở rộng tín dụng, cho vay đồng thời việc phát triển hệ thống core banking của mỗi ngân hàng trở thành một 7 điều tất yếu của mỗi ngân hàng nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.
Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng điện tử là sự phát triển của các hình thức thanh toán điện tử bao gồm nhiều loại hình khác nhau như: Thanh toán qua nền tảng NFC, QR – Code … tuy nhiên trong phạm vi bài nghiên cứu này tác giả tập trung nghiên cứu về hình thức thanh toán qua QR – code do ngân hàng TMCP Quân Đội cung cấp. Khái Quát Về Dịch Vụ QR – Pay Mã QR (QR –Code) được phát triển đầu tiên tại Nhận Bản vào năm 1994 và được sử dụng trong ngành công nghiệp ô tô nhằm mục đích theo dõi tình hình và quá trình sản xuất ô tô. Sau đó dần được phát triển ở nhiều loại hình ngành nghề khác nhau tuy nhiên sự bùng nổ việc sử dụng QR – code trong thanh toán là ở Trung Quốc và Đài Loan thông qua ứng dụng We chat do tập đoàn Tencein cung cấp. Tại Việt Nam, việc sử dụng QR- code cũng như các hình thức thanh toán xuất hiện khá muộn so với các nước trong khu vực, vào năm 2013 QR – Code xuất hiện lần đầu tiên với mục đích cung cấp công cụ hỗ trợ tra cứu thông tin về sản phẩm cho người dùng thông qua việc quét hình ảnh những ma trận vuông.
Theo đó, một mã QR sẽ cung cấp cho người dùng thông tin cá nhân, địa chỉ mail hay một chương trình khuyến mãi nào đó từ một nhà cung cấp nào đó. Tại thời gian này, những công cụ hỗ trợ cho nền tảng này còn khá hạn chế trong điều kiện số lượng người dùng thưa thớt dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc phát triển và mở rộng sản phẩm đến toàn xã hội. Tuy nhiên đến năm 2017 mã QR – code lần đầu tiên được sử dụng trong các phương thức thanh toán tài chính do một số định chế tài chính cung cấp: đi đầu trong lính vực này phải nhắc đến ví điện tử MoMo khi cho phép người dùng thanh toán trực tiếp tại hàng loạt cửa hàng, hệ thống của các đối tác với tổ chức này trên toàn quốc. Tiếp theo đó là sự kế thừa từ những định chế tài chính khác bao gồm các NHTM và các công ty tài chính cho đến hiện nay việc thanh toán bằng QR – code đã xuất hiện trên hầu hết các nền tảng ứng dụng khác nhau.
Kể từ khi bắt đầu phát triển hệ thống thanh toán qua QR – code cho đến nay, thì sản phẩm này nhận được sự đón nhận khá tích cực từ phía khách hàng cũng như những nhà cung cấp dịch vụ thanh toán. Theo thống kê của VN – Pay vào năm 2019 ghi nhận số 8 lượng tổ chức tài chính cung cấp sản phẩm sử dụng thanh toán QR – code lên đến hơn 20 đơn vị, đồng thời số lượng điểm giao dịch chấp nhận thanh toán thường xuyên phát sinh giao dịch lên đến hơn 20,000 điểm. Hiện nay các sản phẩm chủ yếu khách hàng sử dụng dịch vụ QR – code để thanh toán là mua sắm tại các trung tâm thương mại, các cửa hàng ăn uống và mua sắp trực tuyến, ngoài ra vào đầu năm 2019 khách hàng có thể thanh toán hóa đơn điện nước, truyền hình internet thông qua hệ thống QR Pay của các ngân hàng môt cách dễ dàng. Đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng đến đa phần là bộ phận giới trẻ có những hiểu biết nhất định về công nghệ thông tin đồng thời sẵn sàng trải nghiệm những dịch vụ mới.
Nếu nắm bắt được số lượng khách hàng tiềm năng này, thì xu hướng thanh toán chủ yếu trong xã hội sẽ có khả năng thay đổi theo hướng tích cực trong thời gian sắp tới. Một trong những tác động tích cực có thể kể đến là tăng khả năng kiểm soát lưu lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng nhà nước nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát cũng như tiết kiệm một lượng lớn ngân sách quốc gia cho việc in ấn phát hành tiền mới, thay vào đó sử dụng nguồn lực trên để phát triển những vấn đề khác trong xã hội như y tế, giáo dục … 2. Cách thức hoạt động của dịch vụ QR – PAY Công nghệ thanh toán qua hình thức QR code được phát triển dựa trên công nghệ mã vạch (Barcode) thường được sử dụng để tra cứu thông tin cụ thể về một loại sản phẩm nào đó. Mã QR được gia tăng số lượng các mã vạch theo chiều ngang và chiều sâu, trong khi mã vạch – Barcode chỉ có thể chứa một số lượng nhất định dữ liệu thì mã QR có thể chứa một khối lượng thông tin lớn hơn một cách đáng kể, đi kèm với đó là tính chất bảo mật cao nên có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Mã QR thường hiển thị dưới hình thức ô vuông màu đen trên nền trắng, bên trong có chứa nhiều ký tự chồng chéo được mã hóa và được quét bởi một máy đọc mã vạch hoặc điện thoại thông minh (Young-Sil Lee, Hoonjae Lee (2010). Ngoài ra việc sử dụng công cụ thanh toán qua QR code cũng như một số loại hình thanh toán điện tử khác có những điểm khác biệt so với việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Theo đó người sử dụng dịch vụ phải trải qua một quá trình truy cập và chuyển nhượng quyền thanh toán bởi một tổ chức tài chính mà khách hàng đã đăng kí dịch vụ 9 trước đó. Trong quá trình này hàng loạt những chủ thể tiềm năng đóng vai trò nhất định bao gồm cả trực tiếp lẫn gián tiếp để có thể hoàn thành một giao dịch bất kì.
Theo nghiên cứu “Mobile Payment Market and Research” của Tomi Dahlberg1 và các cộng sựnhững chủ thể có những vai trò nhất định trong quá trình này bao gồm: Nhà Cung Cấp Sản Phẩm Dịch Vụ Ngân Hàng, Người Dùng Tổ Chức Tài Chính Nhà Cung Thiêt Bị Cấp Dịch Vụ Ngoại Vi Thanh Toán Nhà Cung Nhà Cung Cấp Dịch Vụ Cấp Dịch Vụ Bảo Mật Mạng Hình 2.1: Các Chủ Thể Tham Gia Tiềm Năng Trong Quá Trình Thanh Toán Điện Tử Trên thị trường hiện nay có hàng loạt định chế đóng vai trò là nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ thanh toán, thông thường khách hàng thường sử dụng các sản phẩm do chính các ngân hàng và tổ chức tài chính phát hành có thể kể đển như BIDV Smart Banking, MB mobile banking,. Tuy nhiên bên cạnh những sản phẩm này, thì các loại hình ví điện tử là những nhà cung cấp dịch vụ độc lập có thể giúp cho khách hàng những tiện ích tương tự nhưng được phát triển một cách hiệu quả hơn: những sản phẩm nổi bật như MoMo, Zalo Pay. Past, present and future of mobile payments research: A literature review. Electronic commerce research and applications, 7(2), 165-181.