chương 1 đã nêu khái quát được vấn đề nghiên cứu cũng như đối tượng thời gian nghiên cứu, các phương pháp tiếp cận của nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu. Đó là tiền đề để làm rõ hơn, chi tiết và cụ thể hơn cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng sẽ được trình bày chi tiết ở những chương sau. 22 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về hệ số an toàn vốn 2.1 Khái niệm hệ số an toàn vốn theo Basel Năm 1974, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Mặc dù vậy, mãi đến năm 1988, Uỷ ban Basel mới giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà thường được đề cập là hiệp ước Basel I.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ được phổ biến và bắt buộc áp dụng trong các nước thành viên của G10 mà còn được rất nhiều nước khác trên thế giới tự nguyện tham gia. Nội dung cốt lõi của Basel I là yêu cầu các ngân hàng phải có tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA) ở mức an toàn là 8%. Để đáp ứng các yêu cầu phát triển liên tục trong ngành Ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và đến tháng 6/2004, một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành, nhằm đẩy mạnh việc chấp thuận các thông lệ nghiêm ngặc hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.
Nhằm đạt được các mục tiêu này, Uỷ ban Basel cũng đã đề xuất khung đo lường với các trụ cột chính cho phiên bản Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và kết thúc thời gian chuyển đổi đến năm 2010. Một lần nữa, vào ngày 12/9/2010, Ủy ban Basel đã giới thiệu bộ tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu với tên gọi Basel III. Bộ tiêu chuẩn này có hiệu lực từ năm 2013 và sẽ kết thúc thời gian chuyển đổi vào đầu năm 2019. Sau cuộc họp ngày 12/9/2010 của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel, các thành viên đã đạt được thỏa thuận về những chuẩn mới trong Basel III.
Những sửa đổi căn bản trong phiên bản lần này tăng cường yêu cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản và đòn bẩy ngân hàng. Tóm lại theo ủy ban Basel thì hệ số an toàn vốn được hiểu là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại. Dựa vào hệ số này người ta có thể xác định được khả năng thanh toán của một ngân hàng đối với các khoản nợ đến hạn và khả năng chống chọi với các rủi ro khác như rủi ro vận hành, rủi ro tín dụng, cũng như đảm bảo an toàn cho hoạt động an toàn của ngân hàng cũng như quyền lợi của người gửi tiền.2 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá hoạt động của ngân hàng thương mại là một trong những chỉ tiêu đánh giá và xác định được một cách tốt nhất, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh xu hướng quốc tế hóa xu hướng nền kinh tế hiện nay. Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá một ngân hàng hoạt động hiệu quả, đặc biệt là các hoạt động cho vay.
Hệ số an toàn vốn có ý nghĩa như tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh. Tỷ lệ này giúp khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng của ngân hàng đối với các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Dựa vào hệ số này cũng giúp tạo ra sự công bằng khi đánh giá rủi ro giữa các ngân hàng thương mại. Ngân hàng trung ương các nước thường quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay và qua đó giúp đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động an toàn.
Một hệ thống ngân hàng có hệ số an toàn vốn ở mức an toàn sẽ giúp cho toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như hệ thống tài chính của một quốc gia hoạt động an toàn hiệu quả và phát triển, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Ngoài ra hệ số an toàn vốn còn là một công cụ để ngân hàng trung ương thực hiện thanh tra giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, kiểm tra việc đảm bảo vốn thực có so với quy định hay đăng kí với ngân hàng nhà nước khi thành lập ngân hàng, kiểm tra tỷ lệ dự trữ bắt buộc trích lập các quỹ dự phòng theo quy định, và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Vì thế nếu ngân hàng không chấp hành đúng quy định về hệ số an toàn vốn sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản, điều này có thể gây hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của mỗi quốc gia (Phan Thị Thu Hà, 2013). Tỷ lệ an toàn vốn được sử dụng như một chỉ số để ngân hàng và nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro của từng ngân hàng, tỷ lệ này thường được sử dụng để báo cho người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng cũng nhằm mục đích tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại.
Thực tế cho thấy, một khi ngân hàng có hệ số an toàn vốn đạt yêu cầu, có thể giúp ngân hàng chống lại những khủng hoảng về tài chính và bất ổn về kinh tế.3 Đo lường hệ số an toàn vốn 24 2.1 Theo hệ số của Basel I Năm 1988, Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành hệ thống đo lường vốn và rủi ro tín dụng với tên gọi là hiệp ước Basel I. Theo yêu cầu của Basel I các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (CAR) ở mức 8%. Basel I cũng đưa ra định nghĩa về các loại vốn của ngân hàng và phân thành 3 cấp xét theo khả năng chủ động và, do đó, mức độ đáng tin cậy trong việc sử dụng các nguồn vốn để ứng phó với rủi ro từ cấp 1 cao nhất đến cấp 3 thấp nhất. Do vốn cấp 3 có độ tin cậy thấp nhất nên vốn này không được tính đến khi xác định tỷ lệ an toàn vốn.
Basel I phân loại tài sản theo 4 loại mức rủi ro khác nhau là 0%, 20%, 50% và 100%. Vì thế các quy định đo lường của Basel I mang tính tương đối vì mức độ rủi ro của các tài sản chỉ căn cứ vào tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng mà không căn cứ vào quy mô món vay, thời hạn vay và chỉ số tín nhiệm của khách hàng. Ngoài ra, Basel I chỉ mới tính đến rủi ro tín dụng mà chưa tính đến rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.2 Theo hệ số của Basel II Do những hạn chế của Basel I, năm 2004 ủy ban Basel lại giới thiệu ra phiên bản mới tên gọi Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và kết thúc chuyển đổi đến năm 2010, nội dung Basel II gồm 3 trụ cột chính: Trụ cột thứ nhất liên quan đến duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc, trụ cột 2 và 3 liên quan đến quy trình đánh giá hoạt động thanh tra giám sát và công bố thông tin. Theo trụ cột 1 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8%, tuy nhiên, phần mẫu số để tính CAR có sự thay đổi đáng kể: hệ số rủi ro của tài sản không chỉ phụ thuộc vào tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng mà còn phụ thuộc vào độ nhạy rủi ro trong mỗi loại và hệ số tín nhiệm của từng khách hàng.
Hệ số này được mở rộng từ 0 đến 100% ở Basel I lên 0 đến 150% ở Basel II. Ngoài ra mẫu số của CAR không chỉ có tổng tài sản đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro mà còn bao gồm 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòng rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Việc triển khai Basel II giúp các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lành mạnh hơn do trình độ quản trị rủi ro được tăng cường, các biện pháp quản trị rủi ro, đặc biệt là mô hình rủi ro và xếp hạng nội bộ được chủ động áp dụng, đồng thời nguồn vốn được quản lý một cách hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực tín dụng, các 25 ngân hàng thương mại sẽ phải chuyển hướng tập trung vào đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, thay vì dựa chủ yếu vào tài sản đảm bảo.
Ngoài ra, sau khi áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn và thanh khoản, ngân hàng cần thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn, do ngân hàng hoạt động kinh doanh trong môi trường đạt tiêu chuẩn quốc tế.3 Theo hệ số của Basel III Mặc dù đã có nhiều cải tiến trên Basel I nhưng những tiêu chuẩn của Basel II vẫn chưa đủ mạnh để giúp các ngân hàng chống đỡ và vượt qua những rủi ro. Vào ngày 12/9/2010 Ủy ban Basel đã giới thiệu bộ tiêu chuẩn an toàn vốn với tên gọi là Basel III. Bộ tiêu chuẩn này có hiệu lực từ năm 2013 và kết thúc chuyển đổi vào năm 2019. Ngoài ra, Basel III còn đưa ra tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng.
Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn bất thường. Basel III đã giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng. Ngoài ra, sẽ cần có thời gian để đưa những tiêu chuẩn quốc tế mới vào những quy định riêng của các quốc gia. Theo tinh thần như vậy, ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đã đưa ra một lộ trình để thực hiện bất đầu từ tháng 1/2013 và hoàn thành vào cuối năm 2018 đối với tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng.