mở đầu của bài nghiên cứu, các tác giả đã tiến hành hệ thống lại những kỳ vọng khác nhau về mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến đòn bây tài chính trong ba lý thuyết: một là Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The Trade- off Theory), hai là Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking-order Theory), và ba là Lý thuyết về chi phi đại điện (The Agency Theory). Về thời gian nghiên cứu của mau dữ liệu, các tác giả đã xác định và phân chia ra hai giai đoạn thời gian khác nhau đề khảo cứu sự khác biệt các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng tại đất nước Thổ Nhĩ Kỳ: một là thời gian sau cuộc khủng hoảng tài chính (1992 — 2000) và hai là thời gian thực hiện tái cu trúc nền kinh tế (2001 — 2007). 11193267 — Hoàng Thị Mai 11 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán tài chính Kết quả cuối cùng, công trình nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục về các biến Quy mô (SIZE) và Tỷ số giá trị thị trường trên số sách (Market to book — MTB) có mối quan hệ đồng biến với biến Don bay tài chính (Book Leverage — BL). Và trái ngược lại, hai biến Tài sản cố định (Tangibility - TANG) và Loi nhuận (Profitability - PROF) có mối quan hệ nghịch biến với biến Don bay tài chính ở riêng mỗi giai đoạn khảo cứu (giai đoạn một là 1992-2000 và giai đoạn hai là 2001-2007).
Bên cạnh đó, kết qua cũng có bang chứng tương tự khi kiểm định chung cho cả hai giai đoạn (1992-2007).3 Lý thuyết về các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn Don bay tai chinh (LEV): Vé mat thong kê, cấu trúc vốn được đặc trưng bang đòn bay tài chính của doanh nghiệp. Don bay tài chính được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm nợ mà các công ty sử dụng để có thêm tài sản. Theo nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995), họ đã gợi ý cho Tạp chí Tài chính & Kế toán Châu A bốn định nghĩa thay thé cho đòn bay tài chính, đó là: ty lệ tong nợ trên tổng tài san, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ tổng nợ trên tài sản ròng, và tỷ lệ EBIT trên chi phí lãi vay. Trong số các định nghĩa này, tỷ lệ tổng nợ phải trả trên tổng tài sản được coi là định nghĩa rộng nhất, nó có thé được xem như một đại diện tốt hon cho những gi còn lại cho các cô đông trong trường hợp thanh lý.
Ngoài ra, định nghĩa này được hỗ trợ bởi nghiên cứu của Ali et al. Vì những lý do này, ta sẽ sử dụng tỷ lệ tông nợ phải trả trên tổng tài sản làm chỉ số cho đòn bẩy tài chính và là biến phụ thuộc chính của nghiên cứu. LEV=1— vốn chủ số hữu Tổng tài sản Khả năng sinh lời (ROA): được phản ánh qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp (ROA). Các kết luận về mối quan hệ của khả năng sinh lời và đòn bay là trái ngược nhau.
Dựa trên lý thuyết chi phí đại diện, Jensen (1986) và Williamson (1988) đã phát biểu rằng các công ty có lợi nhuận thường có dòng tiền tự do cao hơn, điều này khuyến khích các nhà quản lý đầu tư tùy ý. Dé hạn chế vấn đề này, nợ được lựa chọn như một công cụ hữu hiệu dé các nhà quản lý có kỷ luật hơn trong việc tiếp tục sinh lời để phục vụ nợ. Do đó, chúng ta có thé nói rang các công ty có lợi nhuận cao đang hap thụ nhiều nợ hơn, khiến chúng có quan hệ thuận chiều nhau. Ngược lại, Aremu et al.
(2013) đã sử dung lý thuyết lệnh Pecking dé giai thich rang các công ty có lợi nhuận thích tai trợ nội bộ hơn. Do đó, các công ty có lợi nhuận có xu hướng giữ lại nhiều lợi nhuận hơn dé mở rộng thay vì trả các khoản nợ, điều này làm cho mối quan hệ có liên quan tiêu cực. Đối với bài báo này, chúng ta sẽ dựa trên quan điểm của lý thuyết lệnh Pecking và sẽ giả 11193267 — Hoàng Thị Mai 12 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán tài chính định rằng lợi nhuận và nợ có mối quan hệ nghịch đảo. ROA= Loi nhuận trước thuế Tổng tài sản Gia thuyết H1: Khả năng sinh lời ROA có quan hệ nghịch chiều với cơ cấu vốn của NHTM Qui mô ngân hang (SIZE): Theo Calayan & Sack (2009) và M.Gropp & Heider (2009) quy mô của ngân hàng được đo lường bằng logarit của tổng tài sản như sau: Size = In (Tổng tài sản) Theo lý thuyết trật tự phân hạng (Myers & Majluf, 1984; Myers, 1984), các doanh nghiệp sẽ tài trợ theo thứ tự nguồn nội bộ, đi vay, phát hành cô phan.
Khi các ngân hàng tăng trưởng cao, việc tự tài trợ thường không đủ, do vay, xu hướng sử dụng nguồn bên ngoài sẽ tăng lên, dẫn đến vay nợ nhiều hơn và mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và cấu trúc vốn của ngân hàng là cùng chiều (Sibindi, 2018; Shah và cộng sự, 2019; Sakunasingha và cộng sự, 2018; Ngô Hoàng Vũ, 2020). Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết tiếp theo: Giả thuyết H2: Qui mô ngân hàng và cấu trúc vốn của NHTM có mỗi quan hệ cùng chiêu. Lạm phát (INF): Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá tri của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức gia chung tăng cao, một đơn vi tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Các nghiên cứu chỉ ra lạm phát và cau trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều như các nghiên cứu của Frank va Goyal (2009), Joeveer (2013) và Tongkong (2012). Khi lạm phát tăng, chi phí huy động vốn và chi phí phá sản sẽ tăng tương ứng. Tuy nhiên, khi lam phát tăng, các NHTM có thé tăng lãi suất tiền gửi, thu hút tiền gửi nhiều hơn làm tăng đòn bẩy tài chính của ngân hàng (Sakunasingha và cộng sự, 2018). Do đó, nhóm tác giả tiếp tục đề xuất giả thuyết: Giả thuyết H3: Lạm phát có ảnh hưởng thuận chiều đến cấu trúc vốn của NHTM.
Tăng trưởng GDP: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tong sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định. Khi kinh tế tăng trưởng cao sẽ làm tăng đầu tư và tiêu dùng, làm cho cầu tín dụng tăng lên (de Jong và cộng sự, 2008). Đề có thé đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cần tăng cường huy động vốn, dẫn đến đòn bẩy tài chính tăng lên. Vì vậy, giả thuyết được đặt ra: 11193267 — Hoàng Thị Mai 13 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán tài chính Giả thuyết H4: Tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều đến cầu trúc von của NHTM Thời gian hoạt động trên sàn: Các ngân hàng có thời gian hoạt động lâu dài sẽ nhận được uy tín cao từ người gửi tiền.
Kết qua là ngân hàng sẽ có đòn bay tài chính cao hơn, phù hợp với lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976). Vì vậy, nhóm tác giả đặt ra giả thuyết: Giả thuyết H5: Thời gian hoạt động và cấu trúc vốn có mối quan hệ cùng chiêu. Tăng trưởng tài sản (GASSET): Theo lý thuyết trật tự phân hạng (Myers & Majluf, 1984; Myers, 1984), các doanh nghiệp sẽ tài trợ theo thứ tự nguồn nội bộ, đi vay, phát hành cô phan. Khi các ngân hang tăng trưởng cao, việc tự tài trợ thường không đủ, do vậy, xu hướng sử dụng nguồn bên ngoài sẽ tăng lên, dẫn đến vay nợ nhiều hon và mỗi quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và cau trúc vốn của ngân hàng là cùng chiều (Sibindi, 2018; Shah và cộng sự, 2019; Sakunasingha và cộng sự, 2018; Ngô Hoàng Vũ, 2020).
Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết tiếp theo: Giả thuyết H6: Tăng trưởng tài sản và cầu trúc vốn của NHTM có mỗi quan hệ cùng chiêu Rui ro kinh doanh (RISK): là khả năng không đạt được lợi nhuận hoặc thậm chí thua lỗ do những bắt ôn của thị trường như thay đôi sở thích của khách hàng, nhân viên đình công, gia tăng cạnh tranh, lỗi thời và thậm chí thay đồi chính sách của chính phủ, điều này ảnh hưởng ngay đến thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT). Ảnh hưởng của rủi ro đối với đòn bây được giải thích bởi lý thuyết chi phí phá sản. Một nghiên cứu trước đó của Titman và Wessels (1988) đã giải thích rằng các công ty có thu nhập kém ồn định hon phải chịu chi phí phá sản cao hon; do đó, họ tt chối thêm nợ. Hon nữa, lý thuyết chi phí đại lý khang định rằng khi đối mặt với rủi ro phá sản, các van dé của công ty liên quan đến nợ sẽ tồi tệ hơn (Aremu và cộng sự, 2013).
Tuy nhiên, theo Vatavu (2012), trái ngược với hầu hết các nghiên cứu khác, ông cho rằng các doanh nghiệp tiếp tục sử dụng nợ ngay cả khi họ phải đối mặt với rủi ro kinh doanh cao, vì họ cố găng tối đa hóa lợi ích từ đòn bay tài chính. Đối với bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dựa trên quan điểm của lý thuyết chi phí phá sản và sẽ giả định rằng rủi ro kinh doanh có ảnh hưởng tiêu cực đến việc gánh thêm nợ. Giả thuyết H7: Rủi ro trong kinh doanh và cầu trúc vốn của NHTM có mối quan hệ ngược chiêu Tốc độ tăng trướng theo doanh thu (GROW): đo lường tiềm năng mở rộng 11193267 — Hoàng Thị Mai 14 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán tài chính kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai hoặc các cơ hội đầu tư mà doanh nghiệp có thể thấy trước. Trong bài viết này, tốc độ tăng trưởng được đo lường băng tốc độ tăng trưởng của tổng doanh thu của từng ngân hàng.
Dựa trên giải thích của Chen và Zhao (2006) sử dụng lý thuyết Pecking order, họ gợi ý rằng khi các công ty nhìn thay cơ hội tốt trong tương lai, họ đòi hỏi nhiều vốn hơn dé đầu tư và các công ty thích nợ hơn việc phát hành cô phiếu; do đó, làm cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và đòn bay trở nên tích cực. Tuy nhiên, Barclay et al. (2006) va Pandey (2001) đều giải thích thông qua lý thuyết chi phi đại diện rang khi các công ty có triển vọng tích cực trong tương lai, họ không muốn các chủ nợ gây áp lực lên các quyết định của công ty như các điều kiện đối với khoản tiền được cho vay, đó là ly do tại sao họ giảm mức nợ.