Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ CỬ CHỈ 1. Giao tiếp không lời (non - verbal communication) 1. Giao tiếp không lời là gì? Có thể nhận định rằng giao tiếp không lời là một loại hình giao tiếp rất quan trọng trong quá trình giao tiếp của con người. Xuất phát từ nhiều góc độ tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đưa ra một số định nghĩa liên quan hoặc đề cập đến các bình diện của giao tiếp không lời như sau: Knapp phân tích: “Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm các hành động hoặc các biểu hiện ngoài ngôn từ.
Các hành động hoặc biểu hiện vốn có ý nghĩa được chia sẻ về mặt xã hội đó hoặc gửi đi một cách có chủ đích hoặc được diễn giải như là có chủ đích và được gửi đi hoặc tiếp nhận. […] Giao tiếp phi ngôn từ là một thuật ngữ để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ” [Dẫn theo 31, tr. Định nghĩa trên chỉ quan tâm đến những yếu tố phi ngôn từ được sử dụng một cách có ý thức và chủ đích. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay nhìn chung đều thống nhất rằng giao tiếp phi ngôn từ bao gồm cả các yếu tố hữu thức và vô thức, chủ định và vô tình.
Đó cũng là một trong những lý do gây ra sự tranh cãi hoặc hiểu lầm trong giao tiếp phi ngôn từ giữa các nền văn hóa của các quốc gia khác nhau và trong cùng một quốc gia. Levine và Adelman cho rằng: Giao tiếp phi ngôn từ là ngôn ngữ “im lặng” (silent language), bao gồm việc sử dụng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt và khoảng cách đối thoại [Dẫn theo 31, tr. Cách nhận diện này phần nào mới chỉ nhấn mạnh vào ngôn ngữ thân thể và một phần nhỏ của ngôn ngữ môi trường; và điều đó có lẽ chưa đủ để tạo ra một hình ảnh rõ nét về giao tiếp phi ngôn từ. Hơn nữa, các yếu tố cận ngôn ngữ 2 thuộc giao tiếp phi ngôn từ không phải là ngôn ngữ “im lặng”.
2 Cận ngôn ngữ là tổng thể các hiện tố ngôn thanh phi ngôn từ trong giao tiếp. Nó được dùng chủ yếu để diễn tả cái “Thế nào” thì đúng hơn là “Cái gì” của giao tiếp. 87] Người có cách nhìn khái quát hơn là Dwyer. Ông sử dụng các ví dụ đi kèm thể hiện ý thức rõ hơn về các bình diện khác nhau của giao tiếp phi ngôn từ như cận ngôn và ngoại ngôn.
Tác giả đánh giá: “Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm toàn bộ bộ phận của thông điệp không được mã hóa bằng từ ngữ, ví dụ: giọng nói, diện hiện hoặc cử chỉ và chuyển động” [Dẫn theo 31, tr. Tuy nhiên, các ví dụ được nêu chỉ giúp ta thấy được các yếu tố cận ngôn và ngôn ngữ thân thể mà chưa gợi ra được các yếu tố thuộc ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường. Trên thực tế, các yếu tố này đã được chứng minh cả về lý thuyết và thực tiễn, là không thể thiếu được trong giao tiếp phi ngôn từ. Tiếp thu những định nghĩa trên thế giới, các nhà nghiên cứu Việt Nam, dưới các góc độ khác nhau đã đưa ra những nhận định khác nhau.
Căn cứ vào bình diện “Ngữ dụng học”, Nguyễn Thiện Giáp đề cập: “Giao tiếp phi lời là giao tiếp bằng toàn bộ cơ thể và các giác quan” [12, tr. Theo ông, bên cạnh những phương tiện bằng lời còn có những yếu tố phi lời. Những yếu tố đó bao gồm như bối cảnh, diện mạo, cách ăn mặc, tư thế, điệu bộ, cử chỉ, khoảng cách…Tác giả nhấn mạnh, phân tích hội thoại cần nghiên cứu các yếu tố phi lời. Người ta chỉ có thể hiểu được đầy đủ các cách sử dụng tiếng Việt khi các yếu tố phi lời được nghiên cứu đầy đủ.
Dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa, Nguyễn Quang trình bày: “Giao tiếp phi ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã ngôn từ (verbal code), có nghĩa là không được mã hoá bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh (channels) ngôn thanh (vocal) và phi ngôn thanh (non- vocal). Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ, ngữ lưu …và các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc ngôn ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu, hiện diện…, thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức,… và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp…” [31, tr. Định nghĩa trên đã bao quát được nhiều mặt của vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta có thể tạm mượn cách diễn đạt của Nguyễn Đức Dân để hiểu định nghĩa một cách đơn giản hơn: “Giao tiếp không lời là giao tiếp qua những cử chỉ và chuyển động của hình thể.
Tầm quan trọng của giao tiếp không lời. Trong giao tiếp, nếu thiếu ngôn ngữ không lời thì quá trình ấy sẽ trở nên tẻ nhạt. Do đó, việc nghiên cứu nó trong tổng thể giao tiếp là một điều hiển nhiên. Có thể khái quát thành ba lí do để lí giải tầm quan trọng của giao tiếp không lời như sau: - Thứ nhất, người ta dễ dàng ghi nhớ cái người ta nhìn thấy hơn cái người ta nghe thấy.
- Thứ hai, giao tiếp phi ngôn từ xuất hiện nhiều hơn giao tiếp ngôn từ. Vì tốc độ suy nghĩ của chúng ta nhanh hơn lời nói (một phút trung bình, con người nghĩ được khoảng 700 - 1200 từ trong khi chúng ta chỉ có thể nói với tốc độ khoảng 120-150 từ/1 phút) nên khi chúng ta thể hiện bằng lời không đủ, cơ thể tìm một cách thể hiện khác bằng ngôn ngữ không lời [74]. - Thứ ba, người ta có thể nói dối bằng giao tiếp bằng lời nhưng rất khó nói dối bằng giao tiếp không lời. Phân loại giao tiếp không lời Như đã trình bày ở trên, giao tiếp không lời có nhiều định nghĩa khác nhau nên cách phân loại chúng cũng đa dạng.
Dwyer [Dẫn theo 31, tr. 78] cho rằng, xét theo khu vực, giao tiếp không lời sẽ bao gồm: (1) Chuyển động thân thể (hành vi thân thể) (2) Các đặc tính thể chất (3) Hành vi động chạm (4) Các phẩm chất ngôn thanh (cận ngôn ngữ) (5) Không gian (tính cận kề) (6) Các thao tác 3 Từ đây, người viết sẽ dùng thuật ngữ “Giao tiếp không lời” cho toàn bộ luận văn. (7) Môi trường. Xét theo nguồn gốc, tác giả phân chia thành 4 loại: (1) Giao tiếp không lời mang tính chất cá nhân (2) Giao tiếp không lời mang tính chất văn hóa (3) Giao tiếp không lời phổ niệm (4) Giao tiếp không lời quan yếu.
Dưới góc độ tâm lí học giao tiếp, Nguyễn Văn Lê [19, tr. 46-72] phân tích thành 8 kênh giao tiếp phi ngôn ngữ như sau: (1) Kênh nét mặt (2) Kênh tư thế hay sơ đồ thân thể (3) Kênh trang phục (4) Kênh khoảng cách (5) Cử chỉ và hành động (6) Giao tiếp bằng đồ vật (7) Khung cảnh tự nhiên (8) Khung cảnh xã hội Các cách phân loại nêu trên, tuy có tạo ra sự đa dạng về tiểu loại nhưng chúng có phần quá chi tiết (chẳng hạn việc phân chia kênh trang phục và kênh đồ vật), chưa bao quát một cách triệt để các phạm trù của giao tiếp không lời. Vì thế, luận văn nhận thấy cách phân loại của Nguyễn Quang đã khái quát vấn đề một cách hệ thống, có liên hệ so sánh, đối chiếu trong giao văn hóa, giữa giao tiếp không lời và có lời, đồng thời kèm nhiều ví dụ minh họa thuyết phục. Xuất phát điểm từ các yếu tố nội ngôn và các yếu tố cảnh huống gián tiếp trong quá trình giao tiếp, Nguyễn Quang [31, tr.
80-81] phân loại rất chi tiết như sau: (1) Cận ngôn ngữ (Paralanguage): các đặc tính ngôn thanh, các yếu tố xen ngôn thanh, các loại thanh lưu, im lặng,… (2) Ngoại ngôn ngữ (Extralanguage): ngôn ngữ thân thể (nhãn giao, diện hiện, đặc tính thể chất, cử chỉ và chuyển động thân thể, tư thế, hành vi động chạm…), ngôn ngữ vật thể (quần áo, đồ trang sức, trang điểm, nước hoa, hoa, quà tặng…) và ngôn ngữ môi trường (địa điểm, khoảng cách đối thoại, thời gian, hệ thống ánh sáng, màu sắc, nhiệt độ, sự thông thoáng…). Theo quan điểm trên, ngôn ngữ hình thể (Nguyễn Quang và các nhà nghiên cứu khác thường gọi là ngôn ngữ thân thể hoặc ngôn ngữ cơ thể) chiếm số lượng lớn trong ngôn ngữ không lời. Nó là một kênh có thể tạo ra sự hiểu lầm, diễn giải sai trong giao tiếp giao văn hóa bởi tính đa nghĩa của những cử chỉ. Đây cũng là phần tiếp theo mà luận văn trình bày ở phía sau.
Ngôn ngữ hình thể (body language) 1. Ngôn ngữ hình thể là gì ? Ngôn ngữ hình thể là một phương tiện hữu hiệu để thực hiện giao tiếp không lời. Vì vậy, khi nói đến giao tiếp/ tương tác không lời (nonverbal communication /interaction), các nhà nghiên cứu thường đề cập ngay đến ngôn ngữ hình thể. Họ phát hiện ra rằng cơ thể con người có thể tạo ra hơn 700.000 chuyển động khác nhau để diễn tả các sắc thái cực kì tinh tế của trạng thái, thái độ, xúc cảm, và tình cảm con người.
Từ điển Oxford Advanced Learner’s [38, tr. 121] định nghĩa: “Body language is the process of communicating by the way one sits, stands, moves, etc… rather than by words”. (Ngôn ngữ hình thể là sự biểu lộ cảm giác của ta qua cách ngồi, đứng, di chuyển, v.v chứ không phải bằng lời nói). Và Pease [Dẫn theo 31, tr.
111] cho rằng: Các đặc tính thể chất như hình đáng thân thể, vẻ hấp dẫn toàn thân, bản thân cơ thể con người, mùi của hơi thở, trọng lượng, màu da, màu tóc, là những bộ phận quan trọng của giao tiếp không lời. Bởi vì mọi người phản tác và phản ứng lại các yếu tố đó nên tất cả các yếu tố này đều quyết dịnh các phản hồi trong những cuộc gặp gỡ liên nhân. Các hình ảnh và ấn tượng ban đầu về người khác có thể gắn kết một cách vô thức với các trải nghiệm qúa khứ của con người về các đặc tính thể chất tương tự. Còn Richards et al [Dẫn theo 31, tr.111] định nghĩa ngôn ngữ hình thể đơn giản là: ….
“Việc sử dụng các diện hiện, các chuyển động thân thể v. để giao tiếp một cách có ý nghĩa từ người này sang người khác”. Với những định nghĩa đã nêu trên, người viết trình bày một số cách phân loại như sau. Phân loại ngôn ngữ hình thể Quách Tuấn Khanh 4 [75] phân loại ngôn ngữ hình thể ra 3 phần chính: (1) Nét mặt (cau có: khó chịu, tức giận; giãn căng: mãn nguyện, hài lòng, v.v… (2) Cử chỉ, động tác tay chân, giọng nói.