Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Vũ Hoàng Anh (chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh) nghiên cứu đề tài "Các nhân tố tác động tới ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh". Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh chóng qua các kênh kỹ thuật số. Cụ thể, theo số liệu trích dẫn trong văn bản, vào Quý I năm 2019, số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh Internet tăng lần lượt 68,8% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018; đồng thời giao dịch qua điện thoại di động tăng 97,7% về số lượng và 232,3% về giá trị. Báo cáo Khảo sát Tiêu dùng Toàn cầu (GCS) của PwC thực hiện tại 27 quốc gia/vùng lãnh thổ cũng chỉ ra Việt Nam là thị trường tăng trưởng thanh toán di động nhanh nhất năm 2018, với tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng tăng từ 37% (2017) lên 61% (2018).

Về mặt chủ trương chính sách, nghiên cứu căn cứ vào Quyết định số 986/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đặt mục tiêu giảm tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán xuống dưới 10% vào cuối năm 2020 và dưới 8% vào cuối năm 2025. Đồng thời, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ yêu cầu các đơn vị cung cấp dịch vụ công (y tế, giáo dục, điện, nước, viễn thông...) tại khu vực đô thị phối hợp cùng ngân hàng và tổ chức trung gian thanh toán triển khai thu phí không dùng tiền mặt trước tháng 12/2019; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng được giao nghiên cứu phương án nạp tiền mặt vào ví điện tử không thông qua tài khoản ngân hàng.

Từ thực tiễn nêu trên, tác giả xác định câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các nhân tố nào ảnh hưởng tới quyết định sử dụng tiền điện tử của người dân tại TP. Hồ Chí Minh?
  2. Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào tới quyết định sử dụng tiền điện tử tại TP. Hồ Chí Minh?

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xác định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của chúng đến quyết định sử dụng tiền điện tử của người dân tại TP. Hồ Chí Minh. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa các lý thuyết về hành vi của khách hàng trong việc lựa chọn sử dụng tiền điện tử.
  2. Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động tới ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại TP. Hồ Chí Minh.
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cho các bên liên quan nhằm nâng cao tỷ lệ chấp nhận sử dụng tiền điện tử tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tập trung vào đối tượng người dân đang sinh sống, học tập, làm việc tại khu vực này và sở hữu điện thoại thông minh (smartphone) – điều kiện tối thiểu để cài đặt và sử dụng ứng dụng tiền điện tử.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập trong vòng 4 tuần, từ ngày 10/12/2019 đến ngày 08/01/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận khái niệm tiền điện tử dựa trên định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB, 2009) xem tiền điện tử là giá trị tiền tệ lưu trữ trên thiết bị điện tử, có giá trị không thấp hơn đồng tiền pháp định đang lưu hành và được dùng rộng rãi để thanh toán; cùng định nghĩa của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2000). Trọng tâm nghiên cứu khu biệt vào tiền điện tử trong hệ thống các tổ chức phi ngân hàng (các đơn vị cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, ví điện tử, công ty tài chính) với hai đặc tính kỹ thuật - tài chính: chi phí giao dịch thấp hơn công cụ ngân hàng truyền thống (do không chịu gánh nặng duy trì tiền mặt vật lý) và không sinh lãi định kỳ.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp giữa Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model của Davis, 1989) và Thuyết Hành vi Dự định (TPB - Theory of Planned Behavior của Ajzen, 1991), vốn kế thừa từ Thuyết Hành động Hợp lý (TRA của Fishbein & Ajzen, 1975). Tác giả dẫn chiếu cơ sở từ nghiên cứu của Rahman và cộng sự chỉ ra rằng TAM và TPB có mức độ giải thích hành vi chấp nhận công nghệ cao (lần lượt đạt 73% và 80% trong các nghiên cứu điển hình). Mô hình đề xuất ban đầu gồm 5 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc:

  • Biến độc lập:
    1. Nhận thức hữu ích (HI): Gồm 4 biến quan sát đo lường sự thuận tiện, tính đa dạng dịch vụ, quản lý tài chính, an toàn vật lý và tiết kiệm thời gian/chi phí.
    2. Nhận thức dễ sử dụng (SD): Gồm các biến đo lường tính đơn giản của thao tác giao dịch, giao diện ứng dụng, truy vấn thông tin.
    3. Nhận thức chủ quan (CQ): Đo lường áp lực từ bạn bè, người thân và xu hướng xung quanh.
    4. Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN): Đo lường kiến thức, kỹ năng sử dụng và mức độ tương thích công nghệ.
    5. Thái độ đối với hành vi (TD): Đo lường niềm tin, sở thích thanh toán và ý định giới thiệu người khác.
  • Biến phụ thuộc: Ý định sử dụng tiền điện tử tại TP. Hồ Chí Minh (YD).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai qua hai giai đoạn:

  • Nghiên cứu sơ bộ (định tính): Thực hiện phỏng vấn sâu với 5 cá nhân đã và thường xuyên sử dụng tiền điện tử tại TP. Hồ Chí Minh nhằm rà soát từ ngữ, tính hợp lý của thang đo Likert 5 mức độ và hoàn thiện bảng hỏi chính thức.
  • Nghiên cứu chính thức (định lượng): Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phát bảng hỏi trực tiếp kết hợp gửi liên kết Google Form qua email và mạng xã hội. Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các văn kiện pháp quy của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các công trình khoa học trong và ngoài nước (Kesharwani và cộng sự, 2012; Nidhi Singha và cộng sự, 2019; Ming-Chi Lee, 2008; Lê Thị Kim Tuyến, 2008; Lê Phan Thị Diệu Thảo, 2013; Gia-Shie Liu & Phạm Tấn Tài, 2016).
  • Quy trình phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm IBM SPSS 20.0 để thực hiện: Thống kê mô tả $\rightarrow$ Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha $\rightarrow$ Phân tích nhân tố khám phá (EFA) $\rightarrow$ Phân tích hệ số tương quan Pearson $\rightarrow$ Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (OLS), đồng thời kiểm tra các vi phạm giả định hồi quy (phân phối chuẩn của phần dư qua Normal P-P plot, phương sai phần dư đồng nhất qua biểu đồ Scatterplot, đa cộng tuyến qua chỉ số VIF, tự tương quan qua hệ số Durbin-Watson).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài gắn liền với xu thế số hóa nền kinh tế, chiến lược giảm tỷ lệ dùng tiền mặt theo Quyết định 986/QĐ-TTg và Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ. Tác giả xác định rõ khoảng trống nghiên cứu khi các công trình về tiền điện tử và dịch vụ trung gian thanh toán phi ngân hàng tại Việt Nam còn hạn chế. Chương này xác lập hệ thống 2 câu hỏi nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng là các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân TP. Hồ Chí Minh, phạm vi khảo sát từ 10/12/2019 đến 08/01/2020, làm rõ ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài cũng như kết cấu 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 hệ thống hóa các định nghĩa quốc tế về tiền điện tử (ECB 2009, BIS 2000), phân tích hai đặc tính phân biệt của tiền điện tử phi ngân hàng (chi phí giao dịch thấp, không hưởng lãi suất). Tác giả phân tích nguồn gốc và giới hạn của ba mô hình hành vi nền tảng: Thuyết Hành động hợp lý (TRA), Mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM), Thuyết Hành vi dự định (TPB). Tiếp đó, chương điểm luận các công trình thực nghiệm nước ngoài (Kesharwani và cộng sự tại Ấn Độ; Nidhi Singha và cộng sự; Ming-Chi Lee tại Đài Loan) và trong nước (Lê Thị Kim Tuyến tại Đà Nẵng; Lê Phan Thị Diệu Thảo tại Tây Nam Bộ; Gia-Shie Liu và Phạm Tấn Tài). Tác giả tổng hợp ưu thế của TAM và TPB để đề xuất mô hình tích hợp gồm 5 biến độc lập (HI, SD, CQ, CN, TD) tác động cùng chiều lên biến phụ thuộc (YD), tương ứng với 5 giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H5.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình triển khai từ nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu n=5) đến nghiên cứu định lượng. Tác giả mô tả kết cấu công cụ khảo sát với thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 - Hoàn toàn không đồng ý đến 5 - Hoàn toàn đồng ý), gồm 2 phần: câu hỏi gạn lọc (tiêu chí sở hữu smartphone và sinh sống/làm việc tại TP. Hồ Chí Minh) và hệ thống thang đo đánh giá các biến số. Tác giả thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích thống kê: hệ số Cronbach's Alpha $\ge 0,70$ (loại biến có tương quan biến - tổng $< 0,30$); phân tích EFA với điều kiện KMO từ 0,6 đến 1, Sig. kiểm định Bartlett $< 0,05$, tổng phương sai trích $\ge 50%$, hệ số tải nhân tố (factor loading) $\ge 0,50$ (hoặc mức chênh lệch hệ số tải chéo $> 0,30$); phân tích hệ số tương quan Pearson với mức ý nghĩa $p < 0,05$; kiểm tra đa cộng tuyến với VIF $< 10$ và hệ số Durbin-Watson trong khoảng từ 1 đến 3.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phản ánh toàn bộ tiến trình xử lý số liệu thu được từ mẫu điều tra trên phần mềm IBM SPSS 20.0:

Hình thức thu thập dữ liệu Số lượng bảng hỏi phân phối Số lượng bảng hỏi phản hồi Số bảng hỏi hợp lệ
Phát bảng hỏi trực tiếp 70 50 35
Gửi liên kết qua Google Form (email, mạng xã hội) 180 150 130
Tổng cộng 250 200 165

Quá trình kiểm định thang đo và mô hình diễn ra qua các bước cụ thể:

  • Kiểm định Cronbach's Alpha: Thang đo Thái độ đối với hành vi (TD) có hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,674 (< 0,70) nên bị loại bỏ hoàn toàn khỏi mô hình nghiên cứu. Các thang đo còn lại đạt độ tin cậy tốt: Nhận thức hữu ích (HI1 = 0,859; HI2 = 0,798), Nhận thức dễ sử dụng (SD1 = 0,759; SD2 = 0,687), Nhận thức chủ quan (CQ1 = 0,898), Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN1 = 0,782; CN2 = 0,643).
  • Phân tích EFA biến độc lập: Chỉ số KMO đạt 0,760 (> 0,5); kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 (< 0,05); tổng phương sai trích đạt 69,692% (> 50%); giá trị Eigenvalue = 1,278 (> 1). Ma trận xoay nhân tố trích xuất được 4 nhóm nhân tố từ 17 biến quan sát. Biến SD2 có hiện tượng tải chéo ở hai nhân tố (0,728 và 0,322) nhưng mức chênh lệch đạt $0,728 - 0,322 = 0,406 > 0,30$, do đó biến vẫn được giữ lại để phân tích tiếp.
  • Phân tích EFA biến phụ thuộc (YD): KMO đạt 0,673 (> 0,5); kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000; tổng phương sai trích đạt 72,648% (> 50%); Eigenvalue = 2,179 (> 1).
  • Phân tích tương quan Pearson: Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa biến Nhận thức chủ quan (CQ) và biến phụ thuộc Ý định sử dụng (YD) có giá trị Sig. = 0,451 (> 0,05). Do không đạt ý nghĩa thống kê về tương quan tuyến tính, biến CQ tiếp tục bị loại bỏ khỏi phương trình hồi quy. Ba biến độc lập HI, SD, CN đều có tương quan tuyến tính có ý nghĩa với YD ($p < 0,05$).
  • Phân tích hồi quy đa biến: Tiến hành trên 3 biến độc lập (HI, SD, CN) giải thích cho biến phụ thuộc (YD).
    • Mô hình đạt hệ số $R^2$ hiệu chỉnh là 0,543, nghĩa là 54,3% sự biến thiên của ý định sử dụng tiền điện tử được giải thích bởi 3 nhân tố này.
    • Hệ số Durbin-Watson đạt 2,172 (nằm trong ngưỡng an toàn 1 đến 3, không có tự tương quan).
    • Kiểm định ANOVA cho giá trị $F = 47,525$ với Sig. = 0,000 (< 0,05), khẳng định mô hình phù hợp với tổng thể.
    • Các hệ số phóng đại phương sai VIF đều nhỏ hơn 10 (loại trừ hiện tượng đa cộng tuyến).
    • Về mức độ tác động: Cả 3 biến đều mang hệ số hồi quy chuẩn hóa (Beta) dương. Thứ tự tác động giảm dần là: Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có tác động mạnh nhất, kế tiếp là Nhận thức hữu ích (HI), và cuối cùng là Nhận thức dễ sử dụng (SD) với Beta = 0,216.

Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được tổng hợp trong bảng sau:

Giả thiết nghiên cứu Giá trị Sig. Kết luận kiểm định
H1: Nhận thức hữu ích (HI) tác động tích cực đến Ý định sử dụng (YD) 0,000 Chấp nhận (Không bác bỏ)
H2: Nhận thức dễ sử dụng (SD) tác động tích cực đến Ý định sử dụng (YD) 0,000 Chấp nhận (Không bác bỏ)
H3: Thái độ (TD) tác động tích cực đến Ý định sử dụng (YD) 0,113 Bác bỏ (Đã loại từ Cronbach's Alpha)
H4: Nhận thức chủ quan (CQ) tác động tích cực đến Ý định sử dụng (YD) 0,451 Bác bỏ (Loại từ phân tích tương quan)
H5: Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) tác động tích cực đến Ý định sử dụng (YD) 0,000 Chấp nhận (Không bác bỏ)

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm lược lại các phát hiện thực nghiệm, đối chiếu với mục tiêu đặt ra ban đầu và đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ kết quả mô hình hồi quy:

  1. Cải thiện cảm nhận hữu ích: Tổ chức phát hành cần mở rộng mạng lưới liên kết với các trung tâm thương mại, cửa hàng, điểm bán lẻ để người dùng thanh toán mọi lúc mọi nơi; tích hợp chức năng truy xuất lịch sử giao dịch trực quan để hỗ trợ quản lý chi tiêu.
  2. Gia tăng nhận thức dễ sử dụng: Thiết kế giao diện ứng dụng tối giản, thao tác trực quan, cung cấp video ngắn hướng dẫn quy trình sử dụng cho người dùng mới.
  3. Tăng cường kiểm soát cảm nhận: Cơ quan quản lý nhà nước triển khai các chương trình phổ biến kiến thức tài chính số; nhà phát triển liên tục cập nhật ứng dụng tương thích đa dạng dòng smartphone; đơn vị phát hành đẩy mạnh liên kết với hệ thống tài khoản ngân hàng để người dân nạp/rút tiền thuận tiện.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác lập mô hình hồi quy tuyến tính gồm 3 biến độc lập giải thích được 54,3% ($R^2 \text{ hiệu chỉnh} = 0,543$) sự biến thiên của ý định sử dụng tiền điện tử của người dân TP. Hồ Chí Minh, với độ phù hợp mô hình cao ($F = 47,525; p = 0,000$) và không vi phạm các khuyết tật hồi quy (Durbin-Watson = 2,172; VIF < 10).
  • Xác định mức độ chi phối của từng nhân tố: Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) giữ vai trò quan trọng nhất trong việc kích hoạt ý định sử dụng, tiếp đến là Nhận thức hữu ích (HI) và Nhận thức dễ sử dụng (SD) ($\text{Beta} = 0,216$).
  • Phát hiện điểm khác biệt thực nghiệm: Khác với các nghiên cứu trước đây vốn khẳng định vai trò của chuẩn chủ quan và thái độ, tại thị trường TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn khảo sát, nhân tố Thái độ (TD) không đạt độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha = 0,674), còn Nhận thức chủ quan (CQ) không có mối tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê với ý định sử dụng ($p = 0,451$).

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp học thuật: Nghiên cứu đã kiểm chứng mô hình tích hợp TAM và TPB trong bối cảnh thị trường dịch vụ tài chính số tại một đô thị đang phát triển ở Việt Nam, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cụ thể về thang đo và mức độ tác động của các cấu trúc tâm lý đối với tiền điện tử phi ngân hàng.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt xu hướng vận động của thị trường thanh toán số; giúp các tổ chức trung gian thanh toán và doanh nghiệp FinTech định hình chiến lược phát triển mạng lưới điểm chấp nhận, tối ưu hóa giao diện ứng dụng và đẩy mạnh liên kết cổng thanh toán ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra 4 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Quy mô mẫu nghiên cứu: Cỡ mẫu 165 quan sát hợp lệ là tương đối nhỏ do hạn chế về thời gian khảo sát (4 tuần) và ngân sách thực hiện, làm giảm mức độ đại diện cho tổng thể dân cư.
  2. Phạm vi không gian: Khảo sát chỉ giới hạn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, trong khi tiền điện tử có tính chất lưu thông và phủ sóng trên phạm vi toàn quốc.
  3. Phân tích nhân khẩu học: Chưa kiểm định được sự khác biệt trong ý định sử dụng tiền điện tử giữa các nhóm nhân khẩu học khác nhau (giới tính, độ tuổi/thế hệ, mức thu nhập...) thông qua các kiểm định Independent Samples T-Test hay One-Way ANOVA.
  4. Mức độ giải thích của mô hình: Mô hình mới giải thích được 54,3% biến thiên của ý định sử dụng, còn lại 45,7% phương sai chịu sự chi phối của các nhân tố khác chưa được đưa vào khảo sát do giới hạn thời gian nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Mở rộng kích thước mẫu khảo sát và mở rộng địa bàn điều tra ra các tỉnh, thành phố khác trên cả nước.
  • Bổ sung các biến nhân khẩu học để phân tích so sánh sâu hơn giữa các nhóm người tiêu dùng.
  • Tích hợp thêm các yếu tố tiềm năng khác vào mô hình nghiên cứu để gia tăng năng lực giải thích phương sai.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Hệ thống thông tin quản lý, Thương mại điện tử và Quản trị kinh doanh đang thực hiện đề tài về FinTech, thanh toán điện tử, ví điện tử hoặc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng ứng dụng mô hình TAM, TPB, UTAUT.
  • Cán bộ nghiên cứu và giảng viên: Tham khảo cấu trúc thiết kế bảng hỏi Likert 5 mức độ dành cho sản phẩm thanh toán số, cũng như quy trình làm sạch dữ liệu và xử lý các tình huống thực nghiệm trong SPSS (xử lý biến có Cronbach's Alpha < 0,70, xử lý hiện tượng tải chéo trong EFA và sàng lọc biến không có tương quan Pearson).
  • Bộ phận phát triển sản phẩm tại các đơn vị FinTech/Trung gian thanh toán: Tham khảo các trọng số tác động thực tế để ưu tiên nguồn lực nâng cấp tính năng tiện ích, đơn giản hóa giao diện và đẩy mạnh liên kết ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận khái niệm tiền điện tử theo trường phái nào và giới hạn trong phạm vi tổ chức nào?
Tác giả dẫn chiếu định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB, 2009) và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2000), nhưng giới hạn trọng tâm nghiên cứu vào tiền điện tử trong hệ thống các tổ chức phi ngân hàng (ví điện tử, công ty thanh toán, công ty tài chính), phân biệt qua đặc tính chi phí giao dịch thấp và không phát sinh lãi suất tiền gửi.

2. Tại sao biến Thái độ đối với hành vi (TD) và Nhận thức chủ quan (CQ) không xuất hiện trong mô hình hồi quy cuối cùng?
Biến Thái độ (TD) bị loại bỏ ngay từ bước phân tích độ tin cậy do hệ số Cronbach's Alpha chỉ đạt 0,674 (< 0,70). Biến Nhận thức chủ quan (CQ) dù vượt qua kiểm định EFA nhưng bị loại bỏ trước khi chạy hồi quy đa biến do kiểm định tương quan Pearson với biến phụ thuộc YD cho giá trị Sig. = 0,451 (> 0,05), nghĩa là không tồn tại mối quan hệ tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê.

3. Tiêu chí chọn mẫu và tỷ lệ phản hồi hợp lệ của nghiên cứu là bao nhiêu?
Đối tượng khảo sát bắt buộc phải học tập/làm việc tại TP. Hồ Chí Minh và sở hữu điện thoại thông minh (smartphone). Tác giả đã phân phối 250 bảng hỏi (70 trực tiếp, 180 online), thu về 200 phản hồi, và sau khi loại bỏ 35 phiếu không hợp lệ (do thiếu thông tin hoặc trả lời tất cả các câu giống nhau) thì thu được 165 mẫu hợp lệ dùng cho phân tích chính thức (đạt tỷ lệ hợp lệ 66% trên tổng số phát ra).

4. Trong ba yếu tố được chấp nhận, yếu tố nào tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng tiền điện tử?
Theo kết quả hồi quy đa biến, nhân tố Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có hệ số chuẩn hóa Beta tác động lớn nhất, tiếp theo là Nhận thức hữu ích (HI), và cuối cùng là Nhận thức dễ sử dụng (SD) với hệ số Beta = 0,216.

5. Mô hình hồi quy của nghiên cứu giải thích được bao nhiêu phần trăm sự biến thiên của ý định sử dụng?
Mô hình hồi quy gồm 3 biến độc lập (HI, SD, CN) đạt hệ số $R^2$ hiệu chỉnh bằng 0,543, giải thích được 54,3% sự biến thiên trong ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại TP. Hồ Chí Minh; 45,7% còn lại phụ thuộc vào các nhân tố khác ngoài mô hình.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Vũ Hoàng Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi chấp nhận công nghệ thông qua việc kết hợp hai mô hình TAM và TPB. Qua phân tích thực nghiệm từ 165 mẫu hợp lệ tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu chứng minh ba nhân tố Hành vi kiểm soát cảm nhận, Nhận thức hữu ích và Nhận thức dễ sử dụng có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê tới ý định sử dụng tiền điện tử, giải thích 54,3% phương sai dữ liệu. Đây là tài liệu nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh về cấu trúc phương pháp, cung cấp hàm ý thực tiễn giá trị cho các đơn vị cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và các cơ quan quản lý trong việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.