MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2017 số lƣợng DNVVN chiếm 98,1% so với tổng DN trong toàn nền kinh tế (Tạp chí tài chính online, 2018) , điều đó khẳng định rằng DNVVN chiếm 1 vị trí rất quan trọng trong toàn ộ nền kinh tế của đất nƣớc. Trong đó tỉnh Long An, là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung nhiều loại hình DN, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nƣớc, vào kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm, tạo công ăn việc làm trên địa àn tỉnh. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng hơn mở ra nhiều cơ hội và thách thức đối với DNVVN, ngoài việc thay đổi cơ chế của nhà nƣớc cần phải thay đổi để thích ứng với nhu cầu của xã hội theo từng thời kỳ nhất định, cũng nhƣ phải nâng cao sức cạnh tranh của DNVVN.
Trong khi đó, DNVVN lại có trình độ sản xuất lạc hậu so với các nƣớc có nền công nghiệp phát triển trên thế giới, nguồn lực về vốn cũng rất hạn chế. Các DNVVN tại tỉnh Long An chiếm đa số và giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Hàng năm các DNVVN đóng góp rất lớn vào nguồn thu ngân sách tỉnh Long An. Tính đến ngày 27/9/2021 tỉnh Long An có gần 13.500 DN hoạt động có tổng số vốn đăng ký là trên 348.
Đến hết tháng 11/2019, trên địa àn tỉnh Long An có hơn 11.700 DN đang hoạt động với tổng vốn đăng ký gần 300. Trong đó, đa phần đều là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ với các đặc điểm quản lý chủ yếu: rất nhiều DNVVN chƣa có ộ máy KTQT, thậm chí chƣa có ý thức về tổ chức KTQT trong các cấp quản lý. Các nhà quản trị chƣa có các yêu cầu mang tính thƣờng kỳ đối với bộ phận kế toán về việc cung cấp các thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định kinh doanh theo các chức năng lập kế hoạch, điều hành quá trình thực hiện kế hoạch và kiểm tra phân tích tình 1 hình thực hiện kế hoạch. Chính vì không có yêu cầu nên không có sự tổ chức cung ứng thông tin và cũng không có sự đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn về KTQT cho nhân viên kế toán, một số nhân viên đã qua đào tạo thì lại không có cơ hội ứng dụng KTQT trong thực tế.
Toàn tỉnh Long An hiện có hơn 9.700 DN với số vốn đăng ký 227. Hiện, DNVVN chiếm số lƣợng lớn trên tổng số DN đăng ký thành lập. Hỗ trợ DN nâng cao năng lực sản xuất, tháo gỡ khó khăn trong quá trình hoạt động là những vấn đề mà Long An cần tập trung thực hiện nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh ình đẳng cho DN thuộc các thành phần kinh tế, góp phần phát triển kinh tế- xã hội tỉnh nhà. Có thể thấy một số DNVVN tại tỉnh Long An đã trang ị hệ thống KTQT, nhƣng việc vận dụng vào thực tiễn công tác KTQT trong các DN này còn rất hạn chế.
Sự quan tâm đến tổ chức hệ thống quản trị còn rất ít, những nội dung KTQT đƣợc thực hiện ở mức độ rất khác nhau, thể hiện nhận thức rất khác nhau về KTQT tại các DNVVN. Việc tổ chức và ứng dụng KTQT trong DNVVN tại tỉnh Long An còn nhiều tồn tại và hạn chế. Các thông tin chƣa đủ linh hoạt, kịp thời để làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh tối ƣu của nhà quản trị. KTQT chƣa thực sự trở thành công cụ trợ giúp hữu hiệu trong việc ra quyết định kinh doanh tại DNVVN.
Vì vậy, vấn đề tổ chức và ứng dụng KTQT trong quyết định kinh doanh là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các DNVVN ở tỉnh Long An hiện nay. Điều này yêu cầu DNVVN phải có cái nhìn mới trong cách thức quản lý, đặc biệt là các DNVVN để có hƣớng hoạt động ài ản, chủ động trong hoạch định các chiến lƣợc cho DN. Muốn chủ động ra quyết định, các DN phải có công cụ KTQT giúp nhà điều hành DN nắm bắt đƣợc thông tin hoạt động nội bộ một cách nhanh chóng, chính xác thì mới đƣa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời để bắt kịp với các DNVVN trong khu vực Châu Á và theo xu hƣớng phát triển của thế giới. 2 Để vƣợt qua thử thách DNVVN phải có những chiến lƣợc cụ thể, phải có công cụ KTQT để làm đƣợc điều đó.
Theo IFAC thì vai trò KTQT thể hiện nhƣ một phần không thể tách rời của quy trình quản trị tại DN (Trần Ngọc Hùng, 2016). KTQT đƣợc sử dụng để phục vụ cho các chức năng hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định của các nhà quản lý DN. KTQT có tính đa dạng, linh hoạt gắn liền với quy mô hoạt động đang diễn ra. Mọi cấp quản lý trong DN đều phải dựa vào thông tin KTQT để ra quyết định.
Nhƣ vậy, KTQT có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý DN (Võ Văn Nhị, 2007). Vì những lý do trên, vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An là quan trọng và cần thiết. Đề tài tác giả hƣớng tới nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Long An” để làm luận văn tốt nghiệp.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu những nhân tố ảnh hƣởng đến vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An.2 Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu thực trạng vận dụng KTQT trong DNVVN tại địa àn tỉnh Long An. Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong DNVVN tại địa àn tỉnh Long An.
Đo lƣờng các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong DNVVN tại địa àn tỉnh Long An.3 Câu hỏi nghiên cứu Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu đã nêu ở mục 1.2, đề tài tập trung nghiên cứu để trả lời các câu hỏi sau: 3 Thực trạng của việc vận dụng KTQT trong DNVVN hiện nay ở tỉnh Long An nhƣ thế nào ? Có những nhân tố nào ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An ? Mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An nhƣ thế nào ? Có những giải pháp và hƣớng khắc phục cũng nhƣ các kiến nghị nào giúp nâng cao tính khả thi trong việc vận dụng KTQT tại các DNVVN ở tỉnh Long An ? 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN trên địa àn tỉnh Long An. Khách thể nghiên cứu: DNVVN đóng trên địa àn tỉnh Long An, không ao gồm những DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, DN lớn (Tập đoàn kinh tế) 1.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT tại các DNVVN của tỉnh Long An Giới hạn về không gian: Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại tỉnh Long An Giới hạn về thời gian: Thời gian nghiên cứu trong vòng 6 tháng kể từ ngày 26 tháng 8 năm 2020 đến 26 tháng 2 năm 2021.6 Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thực hiện trong Luận văn này là phƣơng pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp phƣơng pháp nghiên cứu định tính, phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. 4 Phƣơng pháp nghiên cứu định tính: Dùng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp các nhà quản trị DN và các NVKT để xác định các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An thông qua ảng câu hỏi. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: Từ dữ liệu thu thập đƣợc thông qua ảng câu hỏi khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lƣợng phù hợp, kiểm định các giả thuyết liên quan tới các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DNVVN tại tỉnh Long An.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Về mặt khoa học: dựa trên các nghiên cứu trƣớc nhằm xây dựng đƣợc mô hình kế thừa, đồng thời đề xuất thang đo, đã kiểm định sự phù hợp cũng nhƣ độ tin cậy của chúng, đã chỉ ra đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An.
Luận văn có giá trị về mặt khoa học cũng nhƣ về mặt thực tiễn giúp ổ sung vào kho dữ liệu các nghiên cứu tƣơng tự về sau. - Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị về mặt học thuật và mặt thực tế giúp cho cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, DNVVN và ngƣời làm công tác Kế Toán để có cái nhìn ao quát và sự chuẩn bị cần thiết các điều kiện cần cho việc vận dụng KTQT trong các DNVVN tại tỉnh Long An. Từ thực tế cũng nhƣ thông qua các nghiên cứu trƣớc đây, cho thấy trong hầu hết các DN, ộ phận KTQT chƣa thật sự đƣợc coi trọng và chƣa tồn tại nhƣ một ộ phận tách rời so với KTTC. Số lƣợng DNVVN có ộ phận KTQT độc lập là con số rất nhỏ, chỉ tập trung vào các DN có quy mô lớn và vừa.
Hầu hết KTQT đƣợc kết hợp với KTTC, điều này gây ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả hoạt động của DN, làm ảnh hƣởng đến hoạt động kiểm soát nội ộ không đƣợc chặt chẽ cũng nhƣ các quyết định kinh doanh của DNVVN sẽ không đƣợc ảo mật thông tin. Thông tin cho việc ra quyết định trong nội ộ DNVVN chủ yếu là thông tin từ KTTC, về mặt ản chất KTTC chủ yếu phục vụ cho đối tƣợng ên ngoài hơn là dùng trong nội ộ DNVVN. Sự thật hiện nay KTTC đƣợc coi là quan trọng, vì ngƣời điều hành ít hiểu iết công 5 cụ KTQT, vả lại NVKT cũng không hiểu iết nhiều các công cụ KTQT vô hình chung không tƣ vấn cho chủ DNVVN thấy đƣợc lợi ích của công cụ KTQT này. Hiện nay, khi cơ chế thị trƣờng dần là xu hƣớng tất yếu cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, các DNVVN tại tỉnh Long An phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về tìm kiếm khách hàng, thị trƣờng tiêu thụ.
nhằm phục vụ yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng trong và ngoài nƣớc.