chương 1, chương này tác giả sẽ trình bày các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như công chức, viên chức, sự hài lòng công việc. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày lược khảo các giả thuyết và mô hình nghiên cứu có liên quan trước đây, phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng công việc. Khái niệm về công chức, viên chức và sự hài lòng công việc 2. Khái niệm về công chức, viên chức Theo Luật số 22/2008/QH12 của Quốc hội: LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ngày 13 tháng 11 năm 2008; Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019 và Luật số 58/2010/QH12 của Quốc hội: LUẬT VIÊN CHỨC, ngày 15 tháng 11 năm 2010, quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của công chức, viên chức Đặc điểm của công chức Là công dân Việt Nam. Về tính chất công việc: Công chức là người làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhất định và có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. 8 Tính thường xuyên thể hiện ở việc tuyển dụng là không giới hạn về thời gian.
Tính chuyên môn nghiệp vụ được thể hiện bằng việc được xếp vào một ngạch. Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Ngạch bao gồm: chuyên viên cao cấp và tương đương; chuyên viên chính và tương đương; chuyên viên và tương đương; cán sự và tương đương; nhân viên. Như vậy, công chức là chuyên viên cao cấp tương đương có thứ bậc về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là cao nhất, thứ bậc đó giảm dần cho đến nhân viên.
Về con đường hình thành: Có hai con đường hình thành là thông qua tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Nơi làm việc của Công chức rất đa dạng. Về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động.
Về chế độ lao động: Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đặc điểm của viên chức Là công dân Việt Nam. Về chế độ tuyển dụng: người được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp công lập.
Về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Sự hài lòng công việc Các nhà nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau về sự hài lòng trong công việc của người lao động. Trong nghiên cứu này tác giả sẽ đưa ra một số khái niệm sự hài lòng công việc, cụ thể: Theo Kreitner và Kinicki (2007) 9 cho rằng sự hài lòng trong công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Với Weiss (1967) cho rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Ellickson và Logsdon (2001) cho rằng sự thoải mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (Tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là người ta thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc Các lý thuyết về động cơ thúc đẩy có liên quan đến sự hài lòng với công việc của nhân viên là thuyết cấp bậc nhu cầu của A.G, thuyết các nhu cầu của David McClelland (1961), lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1960), lý thuyết về sự công bằng của Stacey Adams và lý thuyết về kỳ vọng của Victor Vroom. Các thuyết này cho rằng nếu tổ chức đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sẽ tạo ra sự hài lòng trong công việc cho người lao động. Lý thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Maslow cho rằng, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu được sắp xếp theo một trình tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng. Cụ thể xếp thành 5 bậc, gồm: - Những nhu cầu cơ bản: ăn, uống, mặc, ở và các nhu cầu tồn tại khác.
- Những nhu cầu về an toàn và an ninh: an toàn, không bị đe dọa về thân thể, tài sản, công việc… - Những nhu cầu xã hội: tham gia câu lạc bộ, đảng phái, tình bạn, tình đồng nghiệp, giao tiếp, được xã hội chấp nhận. - Những nhu cầu tự trọng: thích danh tiếng, tặng danh hiệu, được tôn trọng, tôn trọng người khác. - Những nhu cầu tự thể hiện: muốn hoàn thiện, phát triển nhân cách, sáng tạo. 10 Maslow cũng chia các nhu cầu trên thành hai cấp: nhu cầu cấp cao và nhu cầu cấp thấp.
- Nhu cầu cấp thấp: tác động bên ngoài con người, gồm nhu cầu an toàn và nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý là nhu cầu phổ quát của con người để theo đuổi sự thỏa mãn ở mức độ cao hơn, nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng sự bất mãn trong một cá nhân và nếu một con người đang vật lộn để đáp ứng nhu cầu sinh lý của họ, thì về bản chất họ không có khả năng theo đuổi sự an toàn, xã hội, lòng tự trọng và tự thể hiện. Nhu cầu an toàn và an ninh là việc giữ cho chúng ta an toàn, khỏi bị tổn hại bao gồm nơi trú ẩn, an ninh công việc, sức khỏe và môi trường an toàn. Nếu một người không cảm thấy an toàn trong môi trường của họ, họ sẽ cố gắng tìm sự an toàn trước khi họ cố gắng đáp ứng bất kỳ mức sống nào cao hơn, nhưng nhu cầu an toàn không quan trọng bằng nhu cầu sinh lý cơ bản.
- Nhu cầu cấp cao: tác động bên trong con người, gồm nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. Nhu cầu xã hội là các nhu cầu được liên kết với người khác. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu có lòng tự trọng và tự trọng, bởi vì hầu hết con người có nhu cầu được người khác công nhận và đánh giá cao và được tôn trọng từ người khác. Nhu cầu tự thể hiện là mong ước có thể làm được tất cả những gì mà người đó có khả năng và họ mong ước, đạt được những mục tiêu mà họ đã đề ra, phát triển tiềm năng cá nhân trong lãnh vực mà họ đã chọn.
Thông thường nhân viên có tất cả các nhu cầu nói trên. Tuy nhiên, tại một thời điểm nhất định, một cấp độ nhu cầu nào đó sẽ được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, muốn động viên nhân viên, đòi hỏi nhà quản trị cần phải hiểu họ đang ưu tiên nhu cầu nào, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của họ.G Giáo sư Clayton Alderfer tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và cũng cho rằng hành động của con người là bắt nguồn từ nhu cầu, song có ba loại nhu cầu như sau: 11 - Nhu cầu tồn tại (Existence needs): Ước muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành. và nhu cầu an toàn.
- Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs): Ước muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi người. Mỗi người đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ước tính một người thường bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hướng tới. - Nhu cầu phát triển (Growth needs): Ước muốn tăng trưởng và phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc.
Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thoả mãn của nhu cầu phát triển. Ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi tất cả nhu cầu chứ không phải chỉ một nhu cầu như Maslow đã nói. Hơn thể nữa, khi một nhu cầu nào đó bị cản trở, họ sẽ dồn nỗ lực sang nhu cầu khác. Lý thuyết về các nhu cầu thúc đẩy của David Mc Clelland (1961) David Mc Clelland, nhà tâm lý học người Mỹ, đã đề xuất Lý thuyết về nhu cầu thúc đẩy làm việc vào năm 1961.
Theo ông, trong quá trình làm việc các cá nhân chịu tác động mạnh mẽ bởi ba nhân tố có ảnh hưởng với nhau. Ba nhân tố đó là: thành tích, quyền lực và liên minh. - Nhu cầu thành tích (Need for achievement): Một người có nhu cầu thành tích thường mong muốn hoàn thành những mục tiêu có tính thách thức bằng chính nỗ lực của mình, thích thành công khi cạnh tranh và mong nhận được phản hồi về kết quả công việc của mình một cách rõ ràng.