chương 1 còn phác thảo sơ lược về bố cục của toàn bài nghiên cứu này. Chương này cũng trình bày sơ lược tổng quan các nghiên cứu trước đó, các phương pháp được sử dụng trong thực nghiệm, từ đó làm nền tảng để nghiên cứu sâu hơn trong các chương tiếp theo. 21 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI QUÁT VỀ GỬI TIẾT KIỆM: 2.1 Khái niệm: Tiền gửi tiết kiệm là một hình thức mà cá nhân lựa chọn để gửi một khoản tiền vào một ngân hàng bất kì trong một khoảng thời gian nhất định. Đây có thể là khoản tiền “nhàn rỗi” hoặc một khoản đầu tư có chủ đích của khách hàng.
Qua đó, mỗi cá nhân sẽ chọn lựa cho mình những kì hạn với mức lãi suất tương ứng, tùy thuộc vào mục đích sử dụng tiền của khách hàng tại ngân hàng. Ngân hàng sẽ phát hành sổ tiết kiệm với những thông tin cơ bản như kì hạn, lãi suất, số tiền … 2.2 Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm: Gửi tiết kiệm là một hình thức đầu tư, do đó một số đặc điểm chính của hình thức gửi tiết kiệm sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của khách hàng như sau: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cụ thể: Ngân hàng có các kỳ hạn gửi tiền đa dạng cho khách hàng từ ngắn hạn đến dài hạn. Khách hàng có thể lựa chọn kỳ hạn thấp nhất từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng… tùy theo mục đích sử dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn. Ngoài ra, khách hàng không cần lựa chọn giữa các kỳ hạn gửi nếu gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có khả năng sinh lời ổn định: Lãi suất chi trả cho mỗi sản phẩm gửi tiết kiệm sẽ khác nhau vì được quy định theo kỳ hạn gửi. Lợi nhuận mà khách hàng nhận được từ khoản đầu tư vào các sản phẩm tiết kiệm sẽ thấp hơn so với đầu tư bất động sản, chứng khoán hay đầu tư thương mại. Nhưng mặt khác, nguồn lợi nhuận này tuy không cao nhưng mang tính ổn định và ít rủi ro hơn so với các thị trường khác. Trên thị trường bất động sản hay chứng khoán đang có dấu hiệu bão hòa thì gửi tiền tiết kiệm mang đến sự an toàn.
Tiền gửi tiết kiệm được quản lý rõ ràng: Tiền gửi tiết kiệm được quản lý thông qua sổ tiết kiệm. Sổ tiết kiệm được xem là giấy tờ có giá chứng minh khoản tiền khách gửi tại ngân hàng, thể hiện rõ kỳ hạn, lãi suất được áp dụng. Bên cạnh đó, khách hàng quản lý tài khoản của mình dễ dàng và hiệu quả. 22 Tiền gửi tiết kiệm mang tính ổn định an toàn: Gửi tiết kiệm không có quá nhiều quy định hay đi kèm với những thủ tục khắt khe.
Ngược lại, các ngân hàng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh đưa ra nhiều ưu đãi nhằm thu hút lượng khách hàng đến sử dụng sản phẩm tiết kiệm. Dựa vào những đặc điểm nêu trên, có thể thấy rằng gửi tiết kiệm là loại hình đầu tư an toàn, tiết kiệm thời gian. Thông thường, khách hàng thường chọn những ngân hàng có uy tín cao với mức lãi suất hấp dẫn. Hình thức, địa lý giao dịch thuận tiện, và cân nhắc kỹ kỳ hạn hợp lý để không thiệt thòi khi phải rút tiền trước kỳ hạn.3 Vai trò của gửi tiết kiệm: Đối với nền kinh tế: Tiền gửi tiết kiệm của người dân cùng với các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội vào hệ thống ngân hàng tạo ra nguồn vốn lớn tài trợ cho nền kinh tế.
Huy động vốn được xem là một nhiệm vụ quan trọng của các NHTM nhằm điều hòa nền kinh tế. Nhìn chung, nhận thức về việc đầu tư thông qua gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tốt hơn sẽ ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Qua đó, người dân có lòng tin hơn về nền kinh tế nước nhà sau khủng hoảng kinh tế năm 2008. Đối với ngân hàng: Nguồn vốn huy động dồi dào sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu được lợi nhuận cao.
Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt, vốn dồi dào và ổn định giúp ngân hàng dễ dàng tham gia cạnh tranh. Ngân hàng dễ dàng mở rộng quan hệ với các đối tác nhằm cải thiện những sản phẩm dịch vụ để giữ chân và thu hút khách hàng. Với ngân hàng có khả năng tài chính mạnh sẽ linh hoạt các kỳ hạn, hình thức trả lãi. Các dịch vụ dành cho khách hàng sẽ được cải thiện tốt hơn.
23 Đối với khách hàng: Với tâm lý đi gửi tiền, đầu tiên khách hàng sẽ nghĩ đến sự an toàn và khả năng sinh lời của khoản tiền mình bỏ ra. Gửi tiền tiết kiệm giải quyết được việc sử dụng khoản tiền nhàn rỗi và thúc đẩy khách hàng thói quen tiết kiệm. Đây là một phương tiện lý tưởng để tiết kiệm cho những mục đích tương lai, khách hàng có thể chia nhỏ số tiền ra thành nhiều khoản đúng với kỳ hạn rút tiền mong muốn. Ngoài ra, gửi tiển tiết kiệm có tính thanh khoản cao hơn rất nhiều so với bất kì khoản đầu tư nào khác.
Bởi vì rủi ro là rất thấp, nên lãi suất được hưởng sẽ tỉ lệ thuận với rủi ro. Nhưng nếu khách hàng chọn lọc và tìm hiểu kĩ về thị trường tiền gửi tiết kiệm thì sẽ chọn được cho mình biểu lãi suất hợp lý.4 Rủi ro khi tiết kiệm tại ngân hàng: Trên thực tế, các ngân hàng được coi là một trung gian tài chính tham gia vào quy trình chuyển đổi từ tài trợ ngắn hạn sang tài chính dài hạn. Ngân hàng thường thu tiền từ khách hàng bán lẻ thông qua các kênh tiêu chuẩn: tiền gửi (tài khoản), tiền gửi có kỳ hạn, các sản phẩm liên kết. Tại hầu hết các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM, các tài khoản tiết kiệm không có bất kì cạnh tranh nào về chi phí dịch vụ.
Trên thị trường huy động vốn cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng thương mại hiện nay, khách hàng có thể dễ dàng mở một tài khoản tiết kiệm với mức lãi suất và kỳ hạn linh hoạt. Bên cạnh đó, các dịch vụ như tái kí, thay đổi hạn mức hoặc rút vốn trước hạn đều có thể thực hiện dễ dàng ngay tại quầy. Tài khoản tiết kiệm còn được Ngân hàng đảm bảo với khách hàng về lãi suất rõ ràng thông qua bảng kê lãi suất và giấy tờ có giá trao cho khách hàng là “Sổ tiết kiệm”. Về mặt rủi ro lãi suất, tài khoản tiết kiệm được cho là rủi ro hơn so với tài khoản hiện hành.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm phản ánh sự thay đổi của lãi suất trên thị trường vì thế chịu áp lực cung-cầu. Ngoài ra, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự rủi ro với tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp nhân viên lợi dụng lòng tin của khách hàng quen thuộc để rút ruột tiền gửi của khách hàng.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NHÂN TỐ CÁC NGÂN HÀNG Để tài phân tích và đánh giá về việc ra quyết định của một cá nhân đã được nghiên cứu trước đó qua nhiều bài nghiên cứu. Đặc biệt, nhiều học thuyết được đưa ra về hành vi, dự định của các cá nhân được áp dụng trong vô số những bài nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm qua.
Trong bài sử dụng thông tin từ Thuyết hành động hợp lý và Thuyết hành vi dự định. Thuyết hành động hợp lý3 (Theory of Reasoned Action - TRA) Lý thuyết này được phát triển lần đầu tiên bởi Fishbein vào năm 1967, sau đó 8 năm được sửa đổi và mở rộng hơn bởi Aijen và Fishbein. Lý thuyết này đã trở thành học thuyết chủ đạo cho những nghiên cứu về tâm lý xã hội sau đó. Theo học thuyết này lấy xu hướng hành vi làm yếu tố trọng tâm để dự đoán hành vi tiêu dùng của khách hàng.
Yếu tố này bị ảnh hưởng bởi hai khái niệm cơ bản là Thái độ người tiêu dùng và yếu tố chuẩn chủ quan xung quanh người tiêu dùng. Xét trong mô hình TRA, thái độ của người tiêu dùng được đo lường qua đặc tính của sản phẩm mang lại. Những đặc tính của sản phẩm sẽ tác động lên niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ. Từ đó, quyết định thái độ của khách hàng đối với sản phẩm đó.
Niềm tin này xuất phát từ trải nghiệm trước đó, từ thông tin thuộc tính sản phẩm tiếp cận hằng ngày đến khách hàng. Một cá nhân tiếp nhận những thông tin tích cực về sản phẩm sẽ có thái độ tích cực với sản phẩm đó và ngược lại. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những ảnh hưởng của người thân quen, từ xã hội tác động lên ý định của người tiêu dùng. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan bị ảnh hưởng bởi ý kiến của những người ảnh hưởng rằng cá nhân nên hoặc không nên thực hiện hành vi và sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng.
Mức độ thân thiết của những người có liên quan với người tiêu dùng càng mạnh thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định lựa chọn sản phẩm. Từ hai nhân tố trên, chuẩn chủ quan được hình thành dựa trên ý kiến xem xét của cá nhân đồng thời thái độ về sản phẩm trước đó của khách hàng 3 Fishbein, M. Predicting and understanding consumer behavior: Attitude-behavior correspondence. Understanding attitudes and predicting social behavior, 148-172.
25 Niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm THÁI ĐỘ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Ý ĐỊNH CỦA ĐỐI TƯỢNG Niềm tin của người xung quanh tác động lên đối tượng CHUẨN CHỦ QUAN Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những đối tượng xung quanh Sơ đồ 2.4: Mô Hình Hành Động Hợp Lý (TRA) Thuyết hành vi dự định (TPB) của Aijen (1991)4 Nghiên cứu này được sử dụng khá phổ biến trong các bài nghiên cứu về việc đưa ra quyết định của một cá nhân hoặc tổ chức. Lý thuyết này ra đời nhằm dự đoán quyết định, hành vi trong tương lai của con người thông qua biểu hiện ở thái độ tích cực đối với một sản phẩm hoặc một sự việc nào đó, từ đó dự đoán được quyết định trong tương lai. Theo Aijen, lý thuyết này bị tác động bởi ba nhân tố: (1) Thái độ về hành vi, (2) Chuẩn chủ quan, (3) Kiểm soát hành vi cảm nhận. Thái độ về hành vi quyết định cái nhìn dầu tiên tổng quan về đối tượng đang cần nghiên cứu.