CHƯƠNG 1 Tại trường Đại học Lạc Hồng với mong muốn đổi mới, ngày càng có nhiều giải pháp hoàn thiện, nâng cao chiến lược tuyển sinh, xác định rõ vai trò và sứ mệnh của mình thì đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn học tại trường Đại học Lạc Hồng: nghiên cứu tại Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai” được hình thành. Mục tiêu của đề tài là đo lường, đáng giá, đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp về việc tăng ý định chọn học tại trường thông qua trường hợp hợp khảo sát trên địa bàn TP Biên Hòa, từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất hàm ý quản trị nhằm làm tăng ý định chọn học tại Đại học Lạc Hồng của học sinh trung học phổ thông. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Các khái niệm về ý định Theo Ajzen (1975), ý định hành động là hành động của con người được hướng dẫn bởi việc cân nhắc ba yếu tố niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn.
Theo Philip Kotler và cộng sự năm (2001), trong giai đoạn đánh giá phương án mua, người tiêu dùng cho điểm các thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua. Nhìn chung, quyết định của người tiêu dùng là sẽ mua sản phẩm của thương hiệu họ ưa chuộng nhất. Tuy nhiên, có hai yếu tố có thể cản trở ý định mua trở thành hành vi mua là thái độ của những người xung quanh và các tình huống không mong đợi. Người tiêu dùng có thể hình thành ý định mua dựa trên yếu tố thu nhập mong đợi, giá bán mong đợi, tính năng sản phẩm mong đợi.2 Quyết định Theo từ điển tiếng Việt, quyết định là một động từ chỉ việc có ý kiến dứt khoát về việc làm cụ thể nào đó, là kết quả lựa chọn một trong các khả năng, sau khi đã có sự cân nhắc.
Theo Mankiw (2006), quá trình ra quyết định của cá nhân được định hướng bởi sự tối đa hóa tính hữu ích trong một lượng ngân sách hạn chế. Người tiêu dùng chỉ lựa chọn những loại hàng hóa, dịch vụ nào mang lại cho họ lợi ích lớn nhất. Lợi ích này là tổng hòa những giá trị mà người tiêu dùng nhận được khi lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ đó. Cũng theo Mankiw, quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa thành năm giai đoạn đó là nhận biết về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua và hành vi sau khi mua.
Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và kéo dài sau khi mua.3 Hành vi Theo Nguyễn Văn Chương (2013), hành vi “là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại. Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục 8 đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới” là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội. Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác. Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian.
Theo Philip Kotler (2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình. Dưới góc độ nhân khẩu học thì hành vi của con người được cho là bị ảnh hưởng bởi hệ thống nội tiết và hệ thần kinh. Nó là một chuỗi các hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích bên ngoài.4 Chọn trường đại học Chọn trường đại học của học sinh THPT đề cập đến quyết định dựa trên sự ưa thích các trường đại học để có thể học thêm.
Quyết định này được giả định phải thực hiện liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu và sự cân nhắc các cơ hội và đánh giá về lợi ích và chi phí có thể cho cuộc sống tương lai (Glasser, 1998). Vì vậy, ý định chọn học tại trường Đại học Lạc Hồng của học sinh THPT trong luận văn này được xác định là khi đăng ký xét tuyển chọn trường đại học thì học sinh THPT chọn nguyện 1 vào Đại học Lạc Hồng. Trước khi thi kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia, các học sinh khối 12 được gia đình, người thân, nhà trường, thầy cô giáo, … tư vấn, hỗ trợ trong việc chọn trường đại học dự thi ứng với ngành nghề nào đó phù hợp với bản thân và sẽ thỏa mãn các tiêu chí: năng lực, sở thích cá nhân, điểm chuẩn, chỉ tiêu xét tuyển, địa chỉ trường, việc làm sau khi ra trường, nhu cầu xã hội về ngành nghề, danh tiếng và uy tín của trường đại học,… và sau đó làm các thủ tục đăng ký dự thi.2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết về hành vi hoạch định (TPB) Thuyết hành động hợp lý của Ajzen (1991), Ajzen và Fishbein (1975) là cơ sở để phát triển thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planed Behavior – TPB). Lý thuyết này 9 được tạo ra do dựa trên sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho là hành vi của con người hoàn toàn là do sự kiểm soát của lý trí.
Thuyết hành động hợp lý còn để làm sáng tỏ và dự báo hành vi vủa con người trong bối cảnh cụ thể, cho phép dự báo về những hành vi không hoàn toàn được điều khiển với giả thuyết một hành vi có thể được giải thích hoặc dự báo bởi những ý định để thực hiện nó (Kolvereid, 1996). Ý định là nhân tố trung tâm của lý thuyết hành vi, là động cơ và được xem như là mức độ cố gắng của cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định. Tiền đề gần nhất của hành vi là ý định và được dự đoán lần lượt bởi tiêu chuẩn chủ quan, thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ đối với hành vi Tiêu chuẩn Ý định Hành chủ quan hành vi vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) (Nguồn: Ajzen, 1991) Tiêu chuẩn chủ quan hay còn gọi cảm nhận từ sự ảnh hưởng phía cộng đồng xã hội, được định nghĩa “nhận thức về những áp lực xã hội đến việc không thực hiện hoặc thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991).
Đó là sự ảnh hưởng của những người gần gũi và quan trọng có thể sẽ tác động đến những cá nhân thực hiện hành vi. Thái độ đối với hành vi là cảm xúc tiêu cực và tích cực của các cá nhân bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tâm lý và những tình huống đang mắc phải. Một cá nhân có thể có thái độ tích cực với công việc kinh doanh vì lý do ba mẹ của cá nhân đó là một doanh nhân, những 10 yếu tố ảnh hưởng tới thái độ đối với hành vi kinh doanh, ví dụ như: độc lập, sự tự do, sự kiểm soát, sẵn dàng chấp nhận và đối đầu với rủi ro (Krueger và cộng sự, 2000). Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi tiến hành thực hiện hành vi, có bị kiểm soát hay hạn chế khi thực hiện hành vi đó hay không.
Theo Ajzen (1991), nhân tố kiểm soát hành vi sẽ tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi đó và nếu chính xác trong cả nhận thức của chính bản thân mình thì còn dự dự báo cả về hành vi. Giả định thêm của TPB cho rằng những phần hợp thành ý định được lần lượt xác định bởi ước lượng kỳ vọng và kỳ vọng nổi bật nhất cho từng thành phần đó. Trong đó, kỳ vọng về tiêu chuẩn chủ quan đó chính là nhận thức của những người quan trọng khác không tán thành hay tán thành thực hiện hành vi, kỳ vọng về thái độ với từng hành vi có sẵn hoặc kết quả cụ thể của việc thực hiện hành vi, kỳ vọng về nhận thức kiểm soát các hành vi có liên quan tới các điều kiện cản trở hay thuận tiện việc thực hiện hành vi. Ưu điểm của mô hình TPB, tối ưu hơn so với mô hình TRA trong việc giải thích và dự đoán hành vi của người tiêu dùng khi trong cùng một hoàn cảnh, một nội dung nghiên cứu.
Mô hình TPB đã khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng việc bổ sung yếu tố kiểm soát hành vi về cảm nhận. Nhược điểm, mô hình TPB được xem như một sự thay thế của TRA cho giới hạn kiểm soát ý chí và cho rằng hành vi có kế hoạch và chủ ý. Ngoài ra, TPB còn có một số hạn chế về việc dự đoán hành vi, những hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết quyết định không giới hạn tiêu chuẩn chủ quan, thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Dựa trên nhiều kinh nghiệm nghiên cứu thực nghiệm thấy rằng chỉ có 40% biến động về hành vi có thể được giải thích bằng TPB (Ajzen, 1991).
Hạn chế thứ hai của TPB có thể sẽ có khoảng cách đáng kể về thời gian giữa những đánh giá về hành vi thực tế sẽ được đánh giá và ý định hành vi. Cuối cùng, mô hình TPB dự đoán được hành động của các cá nhân dựa trên những tiêu chí nhất định, tuy nhiên chính bản thân cá nhân sẽ không hoàn toàn thực hiện theo những tiêu chí.2 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được Fishbein và Ajzen xây dựng vào năm 1975, được xem đây là học thuyết tiên phong về lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. 11 Lý thuyết này xác định khuynh hướng hành vi và quan tâm đến những hành vi của người tiêu dùng, mô hình giải thích và tiên đoán xu hướng để thực hiện các hành vi bằng thái độ sẽ hướng đến hành vi tốt hơn là thái độ của người tiêu dùng về dịch vụ hay sản phẩm.