Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường của các khách sạn ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thảo, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đồng Xuân Đảm và PGS.TS. Nguyễn Viết Thái. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế du lịch (mã số: 9310110), ngành Quản lý kinh tế, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2022.

Về tính cấp thiết lý luận, việc giải thích các quyết định bảo vệ môi trường của doanh nghiệp lưu trú trước đây chủ yếu dựa vào các lý thuyết dựa trên hiệu quả như kinh tế học tân cổ điển (Coase, 1937) hay lý thuyết chi phí giao dịch (Williamson, 1985; Simon, 1957). Các lý thuyết này giả định nhà quản lý luôn duy lý và tối đa hóa lợi nhuận, nên không giải thích thỏa đáng các quyết định môi trường phi lợi nhuận hoặc khó định lượng lợi ích kinh tế trong ngắn hạn. Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984; Clarkson, 1995) và lý thuyết tân thể chế (DiMaggio và Powell, 1983; Scott, 1995) dù giải thích được áp lực trách nhiệm xã hội, nhưng lại bị phê phán vì xem doanh nghiệp phản ứng một cách thụ động, hạn chế quyền tự chủ của nhà quản lý (Colwell và Joshi, 2011). Điều này dẫn đến khoảng trống lý luận: các lý thuyết đơn lẻ chưa giải thích được hiện tượng các khách sạn hoạt động trong cùng thể chế, cùng phân khúc thị trường nhưng lại đưa ra các quyết định bảo vệ môi trường không đồng nhất, mang tính chọn lọc (chẳng hạn áp dụng vòi nước chảy chậm nhưng không tái sử dụng đồ vải).

Về tính cấp thiết thực tiễn, số lượng khách sạn tại Việt Nam tăng trưởng nhanh từ 3.267 cơ sở năm 2000 lên 28.000 cơ sở năm 2018. Sự phát triển này tạo áp lực lớn lên tài nguyên tự nhiên. Theo Do Nam Trung và Kumar (2005), mức tiêu thụ điện trung bình tại các khách sạn Việt Nam dao động từ 78 đến 143 kWh/m²/năm (hệ thống điều hòa chiếm 46% đến 53%), mức tiêu thụ nước từ 4 đến 9 m³/m²/năm, chất thải rắn hàng năm từ 11 đến 20 tấn/m³ nhưng chỉ khoảng 10% được tái chế. Thậm chí lượng nước thải tại các khách sạn 2 sao và khu nghỉ dưỡng còn vượt quá lượng nước tiêu thụ. Mặc dù các chương trình nhãn sinh thái như "Khách sạn xanh Asean" hay "Nhãn Bông sen xanh" đã được ban hành, số lượng tham gia còn rất thấp và tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bình Thuận (Tâm, 2015). Đa số biện pháp áp dụng còn manh mún, mang tính bề nổi nhằm cắt giảm chi phí tức thời (Son và cộng sự, 2018; Phu và cộng sự, 2019). Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định bảo vệ môi trường là cấp bách nhằm thúc đẩy quản trị bền vững tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu những nhân tố tác động đến quyết định thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường của các nhà quản lý khách sạn ở Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách và khuyến nghị.
  • Mục tiêu 1: Tổng hợp và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường tại các khách sạn.
  • Mục tiêu 2: Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó đến quá trình ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong các khách sạn.
  • Mục tiêu 3: Đề xuất các hàm ý chính sách, khuyến nghị để thúc đẩy việc thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường trong các khách sạn tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi thứ nhất: Các nhân tố nào ảnh hưởng tới quyết định thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường tại các khách sạn ở Việt Nam?
  • Câu hỏi thứ hai: Các nhân tố có mức độ tác động như thế nào đến quyết định thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường?
  • Câu hỏi thứ ba: Tác động của áp lực thể chế đến quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường có sự khác biệt giữa các khách sạn?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố và sự tác động của chúng tới quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong kinh doanh khách sạn.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát tại bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, các động cơ bên trong, áp lực thể chế bên ngoài, vai trò điều tiết của thái độ nhà quản lý và tác động của đặc điểm tổ chức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án chỉ ra rằng các nghiên cứu về bảo vệ môi trường trong kinh doanh khách sạn phát triển mạnh từ thập niên 2000. Dẫn theo tổng hợp của Kim và cộng sự (2017), các nghiên cứu được phân loại thành ba hướng chính:

Hướng nghiên cứu Nội dung trọng tâm Kết quả và tác giả tiêu biểu
Tổ chức (Organizational) Các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường - Nhân tố bên trong (quy mô, tài chính, cam kết quản lý): Nicholls và Kang (2012), Rahman và cộng sự (2012), Leonidou và cộng sự (2013), Tari và cộng sự (2010), Singal (2013), Esparon và cộng sự (2014), Park và cộng sự (2014), Susskind (2014).
- Nhân tố bên ngoài (quy định chính phủ, thể chế): Lynes và Dredge (2006), Tzschentke và cộng sự (2008), Bohdanowicz (2006), El Dief và Font (2012), Mihalic và cộng sự (2012).
Hoạt động (Operational) Lợi ích kinh tế và marketing của các hoạt động môi trường - Lợi ích kinh tế (tiết kiệm chi phí): Chan và Lam (2002), Shiming và Burnett (2002), Sanchez-Ollero và cộng sự (2013), Rutty và cộng sự (2014).
- Lợi ích marketing (hình ảnh thương hiệu): Han và cộng sự (2011), Barber và Deale (2014).
Chiến lược (Strategic) Hoạt động môi trường trong mối quan hệ với các bên liên quan - Khách du lịch: Millar và Baloglu (2011), Miao và Wei (2013), Berezan và cộng sự (2013), Susskind (2014).
- Nhân viên khách sạn: Park và Levy (2014), Raub và Blunschi (2014).

Tác giả đã tổng hợp chi tiết 24 công trình nghiên cứu thực nghiệm từ năm 2000 về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biện pháp môi trường. Phần lớn các công trình tập trung vào các quốc gia phát triển tại Châu Âu và Bắc Mỹ. Từ năm 2017, các nghiên cứu bắt đầu hướng đến các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc (Wang và cộng sự, 2018; Cao và Chen, 2019; Ouyang và cộng sự, 2019) hoặc Việt Nam (Le và cộng sự, 2006; Vu Minh Hieu và Rasovska, 2017).

Từ quá trình điểm luận tài liệu, luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu cụ thể:

  1. Đa số nghiên cứu trước đây phân tích hành vi môi trường dựa trên một góc nhìn lý thuyết đơn lẻ (chẳng hạn lý thuyết dựa vào nguồn lực, lý thuyết thể chế hoặc lý thuyết các bên liên quan), thiếu sự tích hợp đa chiều để xem xét đồng thời các động lực bên trong và áp lực bên ngoài.
  2. Các nghiên cứu chưa giải thích được sự đa dạng và tính chọn lọc trong hành vi thực tế của doanh nghiệp: tại sao các khách sạn hoạt động trong cùng một khung khổ thể chế lại lựa chọn các biện pháp kỹ thuật hoặc chính sách khác nhau.
  3. Thiếu vắng các kiểm chứng thực nghiệm tại các nền kinh tế chuyển đổi và thị trường mới nổi như Việt Nam – nơi khung pháp lý môi trường còn chưa hoàn thiện, các doanh nghiệp còn non trẻ và bị hạn chế về nguồn lực tài chính lẫn công nghệ (DeCastro và Uhlenbruck, 1997; Hitt và cộng sự, 2000; Gunarathne và Lee, 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên các khái niệm và nền tảng lý thuyết quản trị:

  • Phát triển bền vững và du lịch bền vững: Khái niệm phát triển bền vững kế thừa từ Báo cáo Brundtland (WCED, 1987) và Hội nghị Rio de Janeiro (1992); du lịch bền vững kế thừa định nghĩa của UNWTO (1992) và Inskeep (1995), cân bằng giữa kinh tế, xã hội và bảo tồn tài nguyên.
  • Khách sạn xanh: Định nghĩa theo Hiệp hội Khách sạn Xanh (Green Hotel Association), Jackson (2010), và Millar và Baloglu (2011), nhấn mạnh vào cam kết giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
  • Chiến lược môi trường của doanh nghiệp: Phân loại theo Buysse và Verbeke (2003) gồm ba cấp độ: Tuân thủ (Reactivity - dựa vào quy định hiện hành để tồn tại), Ngăn ngừa (Prevention - phân bổ nguồn lực giảm ô nhiễm dưới mức quy định) và Chủ động (Leadership - tìm kiếm lợi thế cạnh tranh thông qua đáp ứng nhu cầu các bên liên quan).
Tác giả Tiêu chí phân loại Nhóm biện pháp bảo vệ môi trường
Kirk (1995); Bohdanowicz (2005); Vu Minh Hieu và Rasovska (2017) Khía cạnh tác động (1) Sử dụng năng lượng hiệu quả; (2) Tiết kiệm nước; (3) Tái chế; (4) Cải thiện chất lượng không khí.
Kassaye (2001) Mức độ can thiệp 4Rs: Cắt giảm (Reduction), Tái sử dụng (Reuse), Tái chế (Recycling), Phục hồi (Recovery).
Prakash (2001) Ràng buộc pháp lý và tính toán lợi nhuận (1) Vượt chuẩn, lợi nhuận xác định được;
(2) Vượt chuẩn, lợi nhuận không xác định được;
(3) Theo luật, lợi nhuận xác định được;
(4) Theo luật, lợi nhuận không xác định được.
Jackson (2010) Tính chất biện pháp (1) Biện pháp kỹ thuật;
(2) Biện pháp hành vi.

Các lý thuyết chính được luận án kết hợp vận dụng:

  1. Lý thuyết quản lý cấp cao (Upper Echelons Theory - Hambrick và Mason, 1984; Hambrick, 2007): Đóng vai trò là lý thuyết gốc. Lý thuyết này cho rằng các quyết định chiến lược trong tổ chức phản ánh giá trị, nhận thức, kinh nghiệm và thế giới quan của nhà quản lý. Trong ngành dịch vụ khách sạn, quyền quyết định của người quản lý là bộ lọc quyết định việc doanh nghiệp nhìn nhận vấn đề môi trường là nguy cơ hay cơ hội (Park và Kim, 2014).
  2. Lý thuyết tân thể chế (Neo-Institutional Theory - DiMaggio và Powell, 1983; Scott, 1995): Giải thích ba dạng áp lực từ môi trường bên ngoài: Áp lực cưỡng chế (từ cơ quan quản lý nhà nước thông qua kiểm tra, xử phạt, ưu đãi thuế); Áp lực quy phạm (từ hiệp hội nghề nghiệp, chuẩn mực ngành, khách hàng, nhà cung cấp); Áp lực bắt chước (sao chép hành vi của các doanh nghiệp dẫn đầu khi môi trường bất định).
  3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984; Clarkson, 1995): Giải thích các hành động môi trường nhằm cân bằng lợi ích của cộng đồng, nhân viên, khách du lịch và đối tác (Cespedes-Lorente và cộng sự, 2003).
  4. Lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource-Based Theory - Hart, 1995; Russo và Fouts, 1997; Rivera, 2002): Coi các biện pháp môi trường là nguồn lực giúp tiết kiệm chi phí, tạo sự khác biệt hóa sản phẩm và gia tăng lợi thế cạnh tranh.
  5. Các mô hình ra quyết định: Mô hình hợp lý (Simon, 1947; Brim và cộng sự, 1962; Mintzberg và cộng sự, 1976), mô hình hợp lý có giới hạn (Simon, 1957) và mô hình ra quyết định theo quyền lực (Allison, 1971; Hoy và Miskel, 1991).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Nghiên cứu định tính): Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với các nhà quản lý khách sạn dựa trên phiếu câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc. Mục đích nhằm điều chỉnh mô hình nghiên cứu lý thuyết, hoàn thiện nội dung thang đo sơ bộ và các chỉ báo cho phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh khách sạn tại Việt Nam.
  • Giai đoạn 2 (Nghiên cứu định lượng): Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc gồm 54 chỉ báo thang đo. Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý cấp cao hoặc cán bộ phụ trách công tác môi trường tại các khách sạn. Phương pháp lấy mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng dựa trên các tiêu chí: thứ hạng sao (từ 1 đến 5 sao và chưa xếp hạng), quy mô buồng phòng, và hình thức sở hữu.
  • Công cụ và kỹ thuật phân tích dữ liệu: Thống kê mô tả; Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho nhóm biến độc lập và nhóm biến phụ thuộc; Phân tích hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) nhằm kiểm định các yếu tố tác động đến quyết định áp dụng các nhóm biện pháp môi trường (biện pháp ưu tiên và biện pháp tăng cường); Phân tích hồi quy tuyến tính OLS (Ordinary Least Squares) để đánh giá mức độ áp dụng; Kiểm định vai trò điều tiết của thái độ nhà quản lý và sự khác biệt theo các đặc điểm tổ chức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong kinh doanh khách sạn

Chương này hệ thống hóa toàn diện các tài liệu học thuật quốc tế và trong nước về quản lý môi trường ngành lưu trú. Tác giả phân tích sự gia tăng số lượng ấn phẩm khoa học từ 7 bài trong thập niên 1990 lên gần 150 bài giai đoạn 2000-2014 (theo Kim và cộng sự, 2017). Nội dung tổng quan phân tách ba hướng tiếp cận (tổ chức, vận hành, chiến lược) và tập trung sâu vào hướng tổ chức. Chương 1 chỉ ra rằng các quyết định môi trường chịu sự chi phối đan xen của các động lực nội bộ (nhận thức quản lý, năng lực tài chính, quy mô) và lực đẩy bên ngoài (thể chế, pháp luật, áp lực xã hội). Tác giả làm rõ mâu thuẫn trong các kết luận thực nghiệm trước đây: một số nghiên cứu khẳng định áp lực thể chế và các bên liên quan có tác động mạnh mẽ (Colwell và Joshi, 2011; Berrone và cộng sự, 2013), trong khi các nghiên cứu khác lại cho thấy tác động mờ nhạt hoặc không có ý nghĩa thống kê (Nygaard và Biong, 2010; Wei và cộng sự, 2015). Qua đó, chương này định hình ba khoảng trống nghiên cứu nền tảng dẫn dắt đến mô hình nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 thiết lập khung phân tích lý luận chi tiết. Tác giả phân tích các khái niệm phát triển bền vững, khách sạn xanh và các cách tiếp cận phân loại hành vi môi trường (như phân loại 4Rs của Kassaye, 2001; hai thuộc tính pháp lý và lợi nhuận của Prakash, 2001; chiến lược tuân thủ - ngăn ngừa - chủ động của Buysse và Verbeke, 2003). Tác giả so sánh các mô hình ra quyết định: từ mô hình hợp lý tuyệt đối (Simon, 1947), mô hình các giai đoạn của Mintzberg và cộng sự (1976), mô hình hợp lý có giới hạn (Simon, 1957) đến mô hình quyền lực và liên minh chính trị (Allison, 1971).

Luận án lập luận rằng quyết định bảo vệ môi trường mang tính chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự đầu tư nguồn lực và thay đổi quy trình vận hành. Do đó, Lý thuyết quản lý cấp cao (Hambrick và Mason, 1984) được chọn làm lý thuyết nền, kết hợp với Lý thuyết tân thể chế (DiMaggio và Powell, 1983) và Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984). Chương 2 xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm:

  • Biến độc lập: Áp lực thể chế (cưỡng chế, quy phạm, bắt chước); Động cơ áp dụng (lợi ích kinh tế, quan hệ các bên liên quan, trách nhiệm xã hội); Đặc điểm tổ chức (quy mô, thứ hạng, sở hữu).
  • Biến điều tiết: Thái độ đối với các vấn đề môi trường của nhà quản lý.
  • Biến phụ thuộc: Quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường và mức độ áp dụng. Tác giả cũng xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu tương ứng kiểm định mối quan hệ trực tiếp và vai trò điều tiết.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm gồm hai bước tuần tự. Trong nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với các nhà quản lý khách sạn nhằm kiểm tra tính thực tiễn của các khái niệm, điều chỉnh cách diễn đạt và loại bỏ các chỉ báo không phù hợp với thị trường Việt Nam. Kết quả nghiên cứu định tính cho phép hoàn thiện bảng hỏi chính thức gồm 54 thang đo thuộc thang đo Likert 5 mức độ.

Trong nghiên cứu định lượng, tác giả mô tả kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại bốn địa bàn: Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang và Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3 xác định rõ các tiêu chí đo lường cho từng nhóm biến:

  • Thang đo "Áp lực thể chế" đo lường áp lực cưỡng chế từ nhà nước, áp lực quy phạm từ đối tác/khách hàng/hiệp hội, và áp lực bắt chước từ đối thủ cạnh tranh.
  • Thang đo "Động cơ áp dụng" đo lường lợi ích kinh tế (tiết kiệm chi phí, doanh thu), quan hệ bên liên quan và đạo đức xã hội.
  • Thang đo "Thái độ của nhà quản lý" đo lường nhận thức về vai trò cá nhân và sự ủng hộ đối với cân bằng sinh thái.
  • Thang đo "Quyết định áp dụng" phân tách các biện pháp môi trường theo các nhóm hành động thực tế. Chương này cũng thiết lập quy chuẩn đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha (loại các biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; Alpha đạt từ 0,6 trở lên), tiêu chuẩn kiểm định EFA (KMO từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê p < 0,05, hệ số tải nhân tố > 0,5), cùng phương pháp hồi quy nhị phân Logistic và hồi quy OLS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu định lượng

Chương 4 cung cấp toàn bộ kết quả phân tích số liệu thống kê từ mẫu khảo sát chính thức. Sau khi đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA:

  • Thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, giá trị phân biệt. Kết quả EFA với biến phụ thuộc đã phân nhóm các biện pháp bảo vệ môi trường thành hai nhóm rõ rệt: "Biện pháp bảo vệ môi trường ưu tiên" (các biện pháp chi phí thấp, dễ thực hiện, liên quan đến tiết kiệm điện, nước cơ bản) và "Biện pháp bảo vệ môi trường tăng cường" (các biện pháp kỹ thuật cao, đầu tư công nghệ, kiểm toán môi trường, hệ thống xử lý chất thải phức tạp).
  • Trên cơ sở đó, tác giả hiệu chỉnh thành hai mô hình hồi quy (Mô hình hiệu chỉnh 01 cho biện pháp ưu tiên và Mô hình hiệu chỉnh 02 cho biện pháp tăng cường).
  • Phân tích hồi quy nhị phân (Binary Logistic): Tác giả đánh giá mức độ phù hợp của mô hình thông qua các thông số kiểm định (-2 Log Likelihood, Cox & Snell R Square, Nagelkerke R Square). Kết quả kiểm định giả thuyết chỉ ra rằng: áp lực thể chế và động cơ kinh tế có tác động thúc đẩy mạnh mẽ quyết định áp dụng các biện pháp ưu tiên; trong khi đó, quyết định áp dụng các biện pháp tăng cường chịu ảnh hưởng lớn hơn bởi thái độ của nhà quản lý và động cơ nâng cao uy tín với các bên liên quan.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính OLS: Kiểm định mức độ áp dụng tổng thể của các khách sạn. Kết quả khẳng định thái độ của nhà quản lý đóng vai trò điều tiết tích cực mối quan hệ giữa áp lực thể chế và mức độ áp dụng thực tế.
  • Tác động của đặc điểm tổ chức: Hồi quy cho thấy quy mô khách sạn (số buồng phòng) và thứ hạng sao (đặc biệt là nhóm khách sạn 3-5 sao) có mối tương quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê với mức độ áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, trong khi hình thức sở hữu phản ánh sự khác biệt giữa các chuỗi khách sạn quốc tế và khách sạn tư nhân độc lập trong nước.

Chương 5: Thảo luận kết quả và hàm ý nghiên cứu

Chương này tập trung thảo luận các phát hiện nghiên cứu đối chiếu với các công trình quốc tế. Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, áp lực cưỡng chế bước đầu đóng vai trò tạo nền tảng tuân thủ tối thiểu, nhưng nếu chỉ dừng lại ở áp lực cưỡng chế thì các khách sạn chỉ dừng lại ở các biện pháp mang tính đối phó. Khi có sự kết hợp giữa áp lực quy phạm, động cơ kinh tế và đặc biệt là thái độ tích cực của nhà quản lý, doanh nghiệp mới chuyển dịch sang áp dụng các biện pháp môi trường tăng cường mang tính chủ động.

Từ kết quả thực nghiệm, chương 5 đề xuất các nhóm hàm ý chính sách và giải pháp cụ thể:

  1. Xác định biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp: Khuyến nghị các khách sạn lựa chọn lộ trình từng bước, bắt đầu từ các biện pháp ưu tiên có thời gian hoàn vốn nhanh để tạo dòng tiền và niềm tin nội bộ trước khi đầu tư vào các biện pháp kỹ thuật phức tạp.
  2. Thiết lập thể chế môi trường thống nhất: Đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về tiêu chuẩn xanh, kết hợp cơ chế kiểm tra giám sát với các chính sách ưu đãi tài chính (hỗ trợ lãi suất vay, khấu trừ thuế cho thiết bị tiết kiệm năng lượng).
  3. Tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức: Xây dựng các chương trình đào tạo chuyên môn về phát triển bền vững cho đội ngũ quản trị cấp cao trong ngành du lịch lưu trú, thúc đẩy các hiệp hội nghề nghiệp đóng vai trò cầu nối chia sẻ chuẩn mực xanh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp: Luận án đã tích hợp thành công Lý thuyết quản lý cấp cao (Hambrick và Mason, 1984) với Lý thuyết tân thể chế (DiMaggio và Powell, 1983) và Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984), khắc phục hạn chế của các cách tiếp cận đơn lẻ trước đây.
  • Khẳng định vai trò điều tiết của nhà quản lý: Luận án chứng minh rằng thái độ đối với môi trường của nhà quản lý đóng vai trò là cơ chế lọc và điều tiết, quyết định mức độ phản ứng của khách sạn trước các áp lực thể chế bên ngoài, giúp giải thích vì sao cùng chịu một thể chế nhưng phản ứng của các khách sạn lại khác nhau.
  • Phân loại hành vi môi trường theo tính chất áp dụng: Thông qua phân tích nhân tố EFA, luận án phân định ranh giới giữa hai nhóm hành vi: "biện pháp môi trường ưu tiên" và "biện pháp môi trường tăng cường", cung cấp mô hình có khả năng dự đoán xác suất hành vi của doanh nghiệp lưu trú tại thị trường mới nổi.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu: Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về quản lý môi trường trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú tại một nền kinh tế chuyển đổi, làm phong phú thêm hệ thống lý luận vốn trước đây chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp tại các nước phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng thực nghiệm: Luận án phác thảo bức tranh dữ liệu chi tiết về mức độ và xu hướng áp dụng các biện pháp môi trường tại bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam (Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh).
  • Căn cứ xây dựng chính sách quản lý: Cung cấp căn cứ thực chứng cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và chính quyền các địa phương trong việc hoàn thiện cơ chế chỉ huy - kiểm soát, cũng như thiết kế các chính sách khuyến khích kinh tế thúc đẩy nhãn sinh thái.
  • Định hướng quản trị cho doanh nghiệp khách sạn: Giúp các nhà đầu tư và quản trị khách sạn nhận diện các rào cản nội bộ, từ đó phân bổ nguồn lực hợp lý, cân đối giữa lợi ích cắt giảm chi phí ngắn hạn và xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi không gian nghiên cứu mới chỉ tập trung tại bốn thành phố du lịch lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh), chưa bao quát được các cơ sở lưu trú tại các khu vực nông thôn, vùng núi hoặc các điểm du lịch mới nổi.
  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional) thu thập dữ liệu tại một thời điểm, do đó chưa theo dõi được sự biến chuyển về nhận thức và quyết định của khách sạn theo tiến trình thời gian dài hạn.
  • Dữ liệu thu thập chủ yếu dựa trên báo cáo tự đánh giá của các nhà quản lý khách sạn, có thể chịu ảnh hưởng nhất định bởi độ lệch mong muốn xã hội (social desirability bias).

Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các điểm đến du lịch sinh thái và các phân khúc lưu trú đặc thù khác (như homestay, resort sinh thái).
  • Triển khai các nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) để đánh giá sự thay đổi trong quyết định môi trường trước và sau khi có các can thiệp chính sách mới từ Nhà nước.
  • Kết hợp thu thập dữ liệu định lượng thứ cấp về hiệu quả tài chính và số liệu kiểm toán năng lượng thực tế để đối chiếu chính xác với mức độ tự báo cáo của nhà quản lý.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực, từ tổng quan tài liệu, thiết kế nghiên cứu định tính hiệu chỉnh thang đo, đến các kỹ thuật xử lý định lượng đa biến (Cronbach's Alpha, EFA, Binary Logistic và OLS Regression). Các thang đo 54 chỉ báo được chuẩn hóa là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài về trách nhiệm xã hội và quản trị môi trường.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp học liệu phục vụ giảng dạy các học phần Quản trị kinh doanh khách sạn, Quản trị chiến lược, Kinh tế du lịch và Phát triển bền vững trong ngành du lịch.
  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách du lịch: Các kết quả phân tích về áp lực thể chế và thực trạng nhãn sinh thái cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát, điều chỉnh các tiêu chuẩn chứng nhận khách sạn xanh, xây dựng cơ chế giám sát và gói hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp.
  • Đối với nhà quản lý và chủ đầu tư khách sạn: Cung cấp góc nhìn thực tế về cơ cấu chi phí, hiệu quả của từng loại biện pháp môi trường, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược xanh hóa phù hợp với quy mô và năng lực tài chính của mình.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại chọn Lý thuyết quản lý cấp cao làm cơ sở lý thuyết gốc thay vì các lý thuyết kinh tế truyền thống?

Các lý thuyết kinh tế truyền thống (như lý thuyết tân cổ điển hay chi phí giao dịch) giả định nhà quản lý ra quyết định hoàn toàn duy lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận, do đó không giải thích được các quyết định môi trường có tính chất phi lợi nhuận hoặc chưa thấy rõ lợi ích trước mắt. Lý thuyết quản lý cấp cao (Hambrick và Mason, 1984) xem xét vai trò quyết định của nhà quản lý: quyết định chiến lược phản ánh giá trị, nhận thức và kinh nghiệm cá nhân của họ. Trong ngành khách sạn – nơi dịch vụ có tính cá biệt cao và áp lực pháp lý môi trường chưa quá khắt khe – thái độ của nhà quản lý chính là bộ lọc quyết định việc tiếp nhận các áp lực bên ngoài và lựa chọn biện pháp bảo vệ môi trường cụ thể.

2. Dữ liệu thực trạng tiêu thụ tài nguyên của các khách sạn tại Việt Nam được luận án trích dẫn như thế nào?

Dẫn theo công trình của Do Nam Trung và Kumar (2005), luận án ghi nhận: mức tiêu thụ điện trung bình tại các khách sạn Việt Nam dao động từ 78 đến 143 kWh/m²/năm, trong đó hệ thống điều hòa không khí tiêu tốn từ 46% đến 53% tổng điện năng tiêu thụ; mức tiêu thụ nước từ 4 đến 9 m³/m²/năm; lượng chất thải rắn hàng năm phát sinh từ 11 đến 20 tấn/m³ nhưng tỷ lệ tái chế chỉ đạt khoảng 10%. Đáng chú ý, lượng nước thải tại các khách sạn 2 sao và các khu nghỉ dưỡng vượt quá lượng nước tiêu thụ thực tế.

3. Ba dạng áp lực thể chế ảnh hưởng đến hành vi môi trường của khách sạn gồm những gì?

Dựa trên Lý thuyết tân thể chế của DiMaggio và Powell (1983), ba dạng áp lực gồm:

  • Áp lực cưỡng chế: Xuất phát từ cơ quan quản lý nhà nước thông qua các quy định, chính sách kiểm soát ô nhiễm, hoạt động thanh tra và chế tài xử phạt, hoặc các biện pháp khuyến khích như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn.
  • Áp lực quy phạm: Xuất phát từ các chuẩn mực hành vi, giá trị do hiệp hội ngành nghề, tổ chức nghề nghiệp, đối tác cung ứng và kỳ vọng của khách hàng thiết lập.
  • Áp lực bắt chước: Xuất hiện trong môi trường cạnh tranh bất định, khi các khách sạn chủ động tìm hiểu và sao chép các giải pháp môi trường của các doanh nghiệp dẫn đầu hoặc có uy tín trong ngành.

4. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA đã phân loại các biện pháp bảo vệ môi trường như thế nào?

Từ dữ liệu khảo sát thực tế, phân tích EFA biến phụ thuộc của luận án đã phân chia các biện pháp bảo vệ môi trường của các khách sạn thành hai nhóm:

  • Biện pháp bảo vệ môi trường ưu tiên: Gồm các hoạt động đơn giản, dễ thực hiện, chi phí đầu tư thấp và mang lại hiệu quả tiết kiệm chi phí vận hành ngay (như tắt thiết bị khi không sử dụng, trồng cây xanh khu vực công cộng, sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện, vòi nước chảy chậm).
  • Biện pháp bảo vệ môi trường tăng cường: Gồm các biện pháp đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ lớn, thay đổi quy trình vận hành và đào tạo chuyên sâu (như lắp đặt hệ thống cảm biến nhiệt, xử lý nước thải hiện đại, kiểm toán năng lượng định kỳ, tham gia các chương trình cấp nhãn sinh thái).

5. Phương pháp phân tích định lượng nào được sử dụng để kiểm định các mô hình nghiên cứu?

Luận án sử dụng hai kỹ thuật hồi quy chính:

  • Phân tích hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression): Được áp dụng cho hai mô hình hiệu chỉnh (Mô hình 01 và Mô hình 02) nhằm xác định xác suất và mức độ tác động của các yếu tố (áp lực thể chế, động cơ, thái độ quản lý) đến quyết định lựa chọn áp dụng nhóm biện pháp ưu tiên hay nhóm biện pháp tăng cường.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính OLS (Ordinary Least Squares): Được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các biến độc lập, vai trò điều tiết của thái độ nhà quản lý và các biến kiểm soát (đặc điểm tổ chức như quy mô buồng phòng, thứ hạng sao, hình thức sở hữu) đối với mức độ áp dụng tổng thể các biện pháp môi trường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã giải quyết trọn vẹn khoảng trống nghiên cứu về các nhân tố chi phối quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường trong ngành khách sạn tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp Lý thuyết quản lý cấp cao với Lý thuyết tân thể chế và Lý thuyết các bên liên quan, công trình đã chứng minh vai trò trung tâm của thái độ nhà quản lý trong việc điều tiết các áp lực bên ngoài thành các hành động thực tiễn. Kết quả phân định hai cấp độ biện pháp môi trường ưu tiên và tăng cường mang lại cơ sở thực chứng giá trị cho việc hoạch định chính sách du lịch bền vững và quản trị lưu trú tại các nền kinh tế mới nổi.