Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và Hàm ý chính sách 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VA TONG QUAN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ CÁC NHÂN TO ANH HƯỚNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LOT CUA CÁC CÔNG TY 2. Khái niệm về Khả năng sinh lời Theo nghiên cứu của Pandey (1980), khả năng sinh lời là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp. Khả năng sinh lời chứng tỏ lợi nhuận có liên quan đến các yếu tố khác. Khả năng sinh lời phân tích các biện pháp và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc vốn được sử dụng trong doanh nghiệp hoặc liên quan đến doanh thu.
Lợi nhuận của doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh trừ đi các khoản chỉ phí, thuế và các khoản cần thiết để duy trì hoạt động công ty. Trong một nghiên cứu của Malik (2011), khả năng sinh lời là một trong những thước đo và mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính. Vì mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa tài sản và khả năng sinh lời của chủ sở hữu. Khả năng sinh lời là một yếu tố rất quan trọng quyết định hiệu suất của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp không có lợi nhuận không thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, một doanh nghiệp có lợi nhuận cao có khả năng tạo ra cho các chủ sở hữu một khoản lãi lớn từ khoản đầu tư của họ. Do đó, mục tiêu cuối cùng của một chủ thể kinh doanh là thu được lợi nhuận để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường ngày càng cạnh tranh. Khả năng sinh lời có liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nhưng có một điểm khác biệt chính.
Trong khi lợi nhuận là một con số tuyệt đối, thì khả năng sinh lời là tương đối, ta không thể xác định chính xác hoàn toàn con số cho khả năng sinh lời. Khả năng sinh lời là một chỉ tiêu hữu hiệu để đo lường hoạt động kinh doanh thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Từ góc độ hoạt động kinh doanh đó, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách và hành động hợp lý để gia tăng lợi nhuận của công ty; hơn nữa, các nhà đầu tư có thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá một doanh nghiệp có tốt hay không và dự đoán khả năng sinh lời của doanh nghiệp đó trong tương lai. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp, không thể không nói đến chỉ số ROA, một chỉ số tài chính cơ bản.
ROA viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Return on total Assets. Chỉ số cho biết mức độ sinh lợi của một doanh nghiệp trên tổng tài sản mà doanh 11 nghiệp đó sở hữu. Chỉ số này được chính nhà quản lý doanh nghiệp, nhà phân tích và nhà đầu tư sử dụng thường xuyên để xác định mức độ hiệu quả của một doanh nghiệp khi sử dụng chính tài sản để tạo ra lợi nhuận. Để sử dụng tối ưu chỉ số ROA, nhà quản lý, nhà phân tích hay các nhà đầu tư sẽ so sánh ROA của các công ty trong cùng một ngành, hoặc qua các năm.
Chỉ số ROA sẽ cho biết, với một đồng vốn đầu tư, tài sản ban đầu thì tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Jewell va Mankin (2010) từng đề cập rằng có rất nhiều công thức tính liên quan đến chỉ số ROA. Nghiên cứu chỉ ra rằng ROA là một trong những chỉ số tài chính phổ biến và được sử dụng nhiều nhất. Chỉ số ROA được sử dụng trong công nghiệp ít nhất từ năm 1919.
Trong nghiên cứu của 2 tác giả năm 2010, cho thấy có 11 phiên bản công thức tính khác nhau của chỉ số ROA trong các cuốn sách về kinh doanh. Mỗi một phiên bản cách tính ROA đều đúng, tuy nhiên công thức phổ biến nhất và được đúc kết lại bằng Lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chia cho Tổng tài sản ROA= Net income/Total Assets Tài sản của một một doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả của việc chuyển chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA.
ROA càng cao được đánh giá là càng tốt vì doanh nghiệp đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lường đầu tư ít hơn. Đối với các doanh nghiệp phi tài chính nợ vay và vốn chủ sở hữu được tách riêng biệt và nghiêm ngặt. Tuy nhiên để ROA đạt được tối đa ưu điểm và tính chính xác, các nhà nghiên cứu, nhà quản trị, nhà đầu tư nên so sánh ROA với các doanh nghiệp trong cùng một ngành, so sánh qua các năm. Bởi mỗi ngành khác nhau, sẽ có cơ cấu tài sản khác nhau.
Nên sử dụng chỉ số ROA để so sánh trong ngành sẽ tốt nhất. Khái niệm về doanh nghiệp phi tài chính. Hiện nay cùng sự phát triển kinh tế-quốc tế, các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật. Khi xem xét đến tình hình hoạt động của công ty thì các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức thường hay xem xét đến việc doanh nghiệp được thành lập là doanh nghiệp tài chính hay phi tài chính để hợp tác kinh doanh.
Doanh nghiệp phi tài chính khác so với doanh nghiệp tài chính. Nếu doanh nghiệp tài chính là những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu tiền tệ và mục tiêu tài chính, bao gồm: Ngân hàng, Bảo hiểm, Dịch vụ tài chính,.Thì doanh nghiệp phi tài chính được hiểu là những doanh nghiệp không thuộc loại hình doanh nghiệp nêu trên. Doanh nghiệp phi tài chính là những tổ chức hoạt động không có mục đích kinh doanh dịch vụ, hàng hóa như các doanh nghiệp tài chính. Doanh nghiệp 12 phi tài chính có đặc điểm cơ bản dựa trên mức độ cung cấp hàng hóa, dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của khách hàng.
Hai khái niệm doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính thực chất được Ngân hàng tạo ra nhằm có thể so sánh và kiểm soát mức độ rủi ro khi tiến hành đầu tư. Theo thống kê của Ngân hàng thì các khoản cho vay, đầu tư cho doanh nghiệp phi tài chính là ít rủi ro hơn so với doanh nghiệp tài chính. Có thể nói hàng hóa của công ty tài chính kinh doanh là tiền tệ, còn công ty doanh nghiệp phi tài chính là hàng hóa, ví dụ như: quần áo, đồ vật dụng, xây dựng công trình, thiết yếu phẩm,.Doanh nghiệp tài chính có thể kể đến là: Ngân hàng, Chứng khoán, Bảo hiểm. Ví dụ: Công ty Cổ phần chứng khoán Vndirect, SSI, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển BIDV, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI,.Doanh nghiệp phi tài chính là số còn lại, bao gồm nhiều ngành nghề như Bất động sản, Thực phẩm và đồ uống, Hàng & Dịch vụ công nghiệp, Tiện ích, Du lịch và giải trí, Hóa chất, Dầu khí, Bán lẻ, Công nghệ thông tin, Y tế,.Ví dụ: Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát (HPG), Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (VNM),.
Khái niệm về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch, mua bán, trao đổi các loại hàng hóa. Hàng hóa được giao dịch ở đây là một loại hàng hóa đặc biệt, đó chính là quyền sở hữu về tư bản. Chứng khoán là sản phẩm tài chính, bao gồm: chứng khoán nợ (trái phiếu), chứng khoán vốn (cổ phiếu thường, cổ phiếu thưởng, cổ phiếu ưu đãi, chứng chỉ quỹ,.), chứng khoán phái sinh (hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi), chứng quyền có bảo đảm (chứng quyền mua, chứng quyền bán). Chứng khoán cũng là công cụ hữu ích được chính phủ cũng như các doanh nghiệp sử dụng nhằm mục đích huy động vốn cho những mục tiêu và dự án nhất định.
Có thể nói, bản chất khái niệm thị trường chứng khoán là nơi giải quyết nhu cầu nguồn vốn cho các doanh nghiệp và nền kinh tế. Để thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả nhất định phải tuân thủ những nguyên tắc sau. Thứ nhất, nguyên tắc công khai minh bạch: các hoạt động xảy ra trên thị trường chứng khoán cần được công bố thông tin chính xác minh bạch theo đúng quy định về công bố thông tin trên thị trường. Thứ hai, nguyên tắc trung gian: mọi hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đều được thực hiện thông qua trung gian, chính là các công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán thực hiện đẩy lệnh giao dịch: mua - bán chứng khoán của nhà đầu tư lên Sở giao dich và được hưởng phí giao dịch theo quy định. Thứ ba, nguyên 13 tắc đấu giá: Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và lệnh bán dựa vào cung-cầu của thị trường. Về cấu trúc thị trường chứng khoán sẽ khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của nhà đầu tư. Căn cứ vào phương thức giao dịch, thị trường chứng khoán chia thành thị trường giao dịch tập trung và thị trường phi tập trung (thị trường OTC-thi trường của nhà buôn, những người sở hữu một danh mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác khi giá cả được đồng thuận.
Thị trường OTC không có trụ sở giao dịch chính thức mà giao dịch được diễn ra tại các sàn giao dịch của các thành viên trên thị trường bằng cách gọi điện hay qua mạng máy tính với diện rộng. Thị trường giao dịch tập trung chính là Sở giao dịch chứng khoán, nơi người mua và bán gặp trực tiếp để giao dịch chứng khoán. Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường, có ba loại thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh. Căn cứ vào sự lưu chuyển vốn, có 2 loại: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp được coi là nơi chứng khoán lần đầu được phát hành ra thị trường, và đây cũng chính là nguồn vốn trực tiếp đem lại cho tổ chức phát hành. Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra sự mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành trước đó tại thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp sẽ không phải nguồn vốn trực tiếp đem lại cho tổ chức phát hành.