Chương I. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại 1. Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Theo Harward và Upton (1961), khả năng sinh lời là khả năng mang đến lợi nhuận của một sự đầu tư nào đó.
Có thể nói mức độ sinh lời cao là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của mọi hoạt động kinh doanh, tuy nhiên liệu phải khả năng sinh lời càng cao thì càng tốt không lại là vấn đề khác. Bởi có thể để đạt được mức sinh lời cao doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng đã phải từ bỏ một cơ cấu tài sản mang rủi ro thấp. Khả năng sinh lời thấp có thể khiến việc doanh khó có thể duy trì trong thời hạn lâu nhất có thể. Do đó, việc đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ, hiện tại và ước lượng, dự đoán khả năng sinh lời trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng.
Trong môi trường quốc tế cạnh tranh gay gắt, gia tăng hiệu quả hoạt động, cải thiện tiềm năng sinh lời của mỗi ngân hàng là một trong những phương thức mang lại chất lượng tốt nhất giúp hệ thống ngân hàng thương mại phát triển vững chắc, lâu dài. Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà mỗi ngân hàng sở hữu. Đó là khả năng ngân hàng có thể tạo ra lợi nhuận từ tất cả các hoạt động kinh doanh, đã bao gồm độ rủi ro. Khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại được biểu diễn bởi các tiêu chí khác nhau như suất sinh lời của tài sản (ROA), suất sinh lời của vốn chủ (ROE),… Khả năng sinh lời là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm đo lường hiệu quả hoạt động, phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá đưa ra kết luận liệu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không hay nói cách khác là thể hiện năng lực sử dụng các phương tiện vật chất và tài chính để làm ra càng nhiều lợi nhuận càng tốt của doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời là điều kiện cần nhưng chưa đủ để khẳng định tính cân bằng về mặt tài chính của doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp nên có thể được hiểu khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại là khả năng kinh doanh, khả năng sử dụng tài sản của mình bao gồm tài SV: Nguyễn Đỗ Thy Cầm 1 MSV: 11150553 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thị Quỳnh Loan sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng, các giấy tờ có giá khác,… và tài sản phi tài chính như giá trị thương hiệu, mức độ danh tiếng,… để tạo ra doanh thu khi đã bỏ ra các chi phí cần thiết. Giống như các doanh nghiệp khác, ngân hàng đạt được lợi nhuận bằng cách kiếm nhiều tiền hơn phần chi phí phải trả.
Phần lớn lợi nhuận của ngân hàng đến từ các khoản phí dịch vụ và lãi từ tài sản ngân hàng đang nắm giữ. Trong khi đó, chi phí chủ yếu là chi phí của các khoản vay. Phần lớn tài sản của ngân hàng là các khoản vay của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức khác và chứng khoán nắm giữ, trong khi các khoản nợ chính là tiền gửi và tiền mà ngân hàng vay từ các tổ chức tài chính khác hoặc bằng việc phát hành trái phiếu ra thị trường. Một trong các cách giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận là sử dụng đòn bẩy.
Lợi nhuận của ngân hàng có thể được thể hiện qua mức độ sinh lợi trên tài sản (ROA) và mức độ sinh lợi trên vốn chủ (ROE). Nhờ sử dụng đòn bẩy, các ngân hàng kiếm được lợi tức từ mỗi đồng giá trị vốn chủ lớn hơn nhiều so với mỗi đồng giá trị tài sản. Tối đa hóa khả năng sinh lời là một mục tiêu quan trọng để tăng cường hiệu quả kinh doanh, giúp ngân hàng phát triển bền vững, đặc biệt trong môi trường ngày càng năng động đòi hỏi sự hội nhập và cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ. Nhằm tăng cường khả năng sinh lời, ngân hàng thương mại cần tạo ra nguồn thu nhập đủ lớn đồng thời trong khi chi phí hoạt động được tiết kiệm ở mức hợp lí, và giảm thiểu được rủi ro, thua lỗ với những chính sách, biện pháp quản lí phù hợp.
Các chỉ tiêu biểu diễn khả năng sinh lời 1.Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường. ROE là một trong những chỉ số tài chính quan trọng nhất để xác định mức độ sinh lời của một NHTM. Đây là chỉ số có thể biểu diễn một cách chính xác việc sau khi bỏ ra và tích lũy một đồng vốn chủ sở hữu có thêm được bao nhiêu đồng lợi nhuận, đo lường mức độ lợi nhuận thu được tính trên giá trị sổ sách của vốn chủ. Hay nói cách khác, với cứ 100 đồng vốn chủ thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra.
Ngoài ra, tỷ lệ này còn phản ánh doanh thu, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. ROE được tính bằng công thức sau đây (Trujillo - Ponce (2013)): SV: Nguyễn Đỗ Thy Cầm 2 MSV: 11150553 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thị Quỳnh Loan Tỷ lệ này nếu mang dấu âm tức ngân hàng làm ăn thua lỗ và ngược lại tỷ lệ mang dấu dương nghĩa là việc kinh doanh của ngân hàng đang có lãi, mang lại lợi nhuận. ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn chủ càng hiệu quả.
Lợi tức trên vốn chủ là điều mà chủ sở hữu ngân hàng quan tâm nhất bởi đó là lợi nhuận từ chính những khoản đầu tư của họ. ROE phụ thuộc không chỉ vào lợi nhuận từ tài sản mà còn vào tổng giá trị tài sản sinh lời. Tuy nhiên, ngân hàng cần phải chi trả bằng các khoản nợ hoặc vốn của chính ngân hàng nếu muốn sở hữu thêm tài sản sinh lời. Lúc này việc dùng đòn bẩy sẽ giúp các chủ sở hữu gia tăng lợi nhuận hơn là việc sử dụng đồng vốn của chính mình.Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản ROA Tỷ số sinh lời trên tài sản được sử dụng nhằm đo lường mức độ sinh lời của một đơn vị giá trị tài sản của ngân hàng.
Tỉ số này biểu diễn mối quan hệ tương quan giữa sức sinh lời và tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu này được áp dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng vì nó thể hiện ngân hàng hiện sử dụng tài sản của mình trong việc kiếm lợi hiệu quả hay không. Tỉ số này được đo lường bằng thương số giữa lấy lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản bình quân của ngân hàng trong từng thời kì (Meslier và các tác giả (2010); Trujillo - Ponce (2013)): ROA càng cao càng chứng tỏ tài sản của ngân hàng được quản lí tốt và được chuyển thành lợi nhuận ròng một cách phù hợp. Tuy nhiên chỉ số này có nhược điểm là không tính đến các khoản ngoại bảng mà đôi khi đây lại là nội dung chiếm phần lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
ROA có thể trả lời câu hỏi: "Với những tài nguyên đang nắm giữ doanh nghiệp có thể làm được gì?". Tuy vậy tỷ số này được áp dụng tốt nhất trong việc so sánh các công ty có cùng mức vốn hóa. SV: Nguyễn Đỗ Thy Cầm 3 MSV: 11150553 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thị Quỳnh Loan 1.Tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM Đây là chỉ số tài chính biểu diễn tiềm năng làm nên lợi nhuận thông qua quá trình kinh doanh của ngân hàng.
Tỷ lệ này là thước đo mức độ chênh lệch giữa thu và chi lãi. Thu lãi có được từ những dịch vụ của ngân hàng dựa trên tổng tài sản có sinh lời NIM mới được phản ánh trong NIM. Tỉ lệ này được tính theo công thức dưới đây: Trong công thức này, thu nhập lãi được hình thành từ các khoản lợi từ đầu tư chứng khoán và cho vay. Trong khi đó chi phí trả lãi tiền gửi và các khoản nợ khác của ngân hàng cấu tạo nên chi phí lãi.
Tài sản có khả năng sinh lời là tài sản có khả năng tạo ra thu nhập cho ngân hàng như cho vay khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh, các khoản đầu tư, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, cho vay liên ngân hàng, … Tỷ lệ thu nhập lãi thuần có thể đánh giá mức thành công của một doanh nghiệp khi đem tiền gửi của khách hàng đi đầu tư so với chi phí phải trả cho khách hàng trên cùng một khoản đầu tư đó. Con số này cho biết ngân hàng được hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu. Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lí tài sản và nợ. Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận.
NIM âm biểu thị ngân hàng đã không đưa ra được quyết định đầu tư tối ưu bởi vì chi phí lãi vay vượt quá số tiền lãi của các khoản đầu tư. Ý nghĩa của khả năng sinh lời Đối với ngân hàng Nhiều ngân hàng thương mại hay các loại hình doanh nghiệp khác nói chung đều có mục đích chung là tối đa hóa khả năng sinh lời cũng như hiệu quả kinh doanh. Khả năng sinh lời mang ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng bởi đây là chỉ tiêu gắn với hiệu quả hoạt động kinh doanh, dựa vào đó nhà quản trị có thể đề ra hướng phát triển tiếp theo của ngân hàng. Không chỉ vậy, khả năng sinh lời còn là nền tảng tiền đề để ngân hàng đưa đến các quyết định quan trọng.
Đồng thời, nâng cao khả năng sinh lời là điều kiện tiên quyết để các ngân hàng thương mại bảo toàn SV: Nguyễn Đỗ Thy Cầm 4 MSV: 11150553 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thị Quỳnh Loan nguồn vốn, là điều kiện để ngân hàng mở rộng thị phần, chú trọng hơn vào công cuộc làm mới dịch vụ giúp thu hút khách hàng tiềm năng. Mặc dù vậy, mức độ sinh lời tỉ lệ nghịch với rủi ro, tức khi một ngân hàng muốn đạt được khả năng sinh lời càng cao đồng nghĩa với việc phải đánh đổi với mức rủi ro càng lớn.