CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm lợi nhuận và khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại Lợi nhuận là một khái niệm kế toán trong đó cho thấy sự vượt quá của doanh thu so với chi phí liên quan cho các hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định. Keynes đã nhận xét rằng "lợi nhuận là động cơ mà các ông chủ doanh nghiệp kinh doanh hướng tới". Mỗi doanh nghiệp phải kiếm được đủ lợi nhuận để tồn tại và phát triển trong một thời gian dài.
Đây là chỉ số để phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập quốc gia và nâng cao mức sống. Không nghi ngờ gì, lợi nhuận là mục tiêu hợp pháp, nhưng không nên được nhấn mạnh quá mức. Ban quản lý nên cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của công ty và đồng thời cũng phải luôn giữ ý nghĩ về sự giàu có, thịnh vượng của xã hội. Do đó, lợi nhuận không chỉ là phần thưởng cho riêng chủ sở hữu mà cũng có liên quan với lợi ích của các đối tượng khác trong xã hội.
Lợi nhuận là thước đo không chỉ để đánh giá hiệu quả kinh tế mà còn bao gồm hiệu quả quản lý và các mục tiêu xã hội. Thuật ngữ khả năng sinh lợi bao gồm hai từ, cụ thể là “lợi nhuận” và “khả năng”. “Lợi nhuận” đại diện cho con số tuyệt đối và không thể đưa ra một ý tưởng chính xác của tính đầy đủ, gia tăng hoặc sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh. Từ "khả năng" phản ánh sức mạnh để kiếm được lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.
Ngoài ra, khả năng kinh doanh cũng hướng tới khả năng tài chính cũng như hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp. Weston và Brigham đã khẳng định "khả năng sinh lợi là thặng dư ròng của một số lượng lớn các chính sách và quyết định". Theo Harward và Upto "Khả năng sinh lợi là khả năng của một sự đầu tư để kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn lực". Vì vậy, trên cơ sở này tác giả có thể định nghĩa như sau: "Khả năng sinh lợi là khả năng kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức, công ty hay một doanh nghiệp kinh doanh".
7 Khả năng sinh lợi của NHTM là khả năng của một NH nhằm nâng cao thu nhập của mình từ việc sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có. Đây là chỉ số quan trọng và đáng tin cậy nhất bởi đã làm nổi bật năng lực quản lý của các NH, miêu tả văn hóa làm việc, hiệu quả hoạt động của NH. Khả năng sinh lợi là một khái niệm tương đối và khá hữu ích trong việc ra quyết định. Đó là một kế hoạch bao gồm các bước được thực hiện để cải thiện lợi nhuận của các NH.
Đôi khi, khái niệm "lợi nhuận" và "khả năng sinh lợi" được sử dụng thay thế cho nhau nhưng trong ý nghĩa thực tế chúng có sự khác biệt. Lợi nhuận là thu nhập dư còn lại sau khi đáp ứng tất cả chi phí sản xuất, chi phí quản lý. Lợi nhuận là một con số tuyệt đối không thể hiện đầy đủ sự thay đổi trong hiệu quả từ hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn và nhầm lẫn trong trường hợp so sánh khi công ty có sự thay đổi trong quy mô đầu tư hay bán hàng.
Tuy nhiên, những vấn đề này được xử lý bằng cách liên hệ con số lợi nhuận tuyệt đối, hoặc với khối lượng bán hàng hoặc với mức độ đầu tư. Một mối quan hệ định lượng đó thành lập dưới hình thức tỷ lệ hoặc tỷ lệ phần trăm và tỷ lệ đó là khả năng sinh lời. Như vậy, khả năng sinh lợi có thể được coi là một thuật ngữ tương đối đo lường lợi nhuận và mối quan hệ với các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng trực tiếp lợi nhuận. Nói tóm lại, lợi nhuận là lý do cho sự tồn tại tiếp tục của tất cả các tổ chức kinh doanh trong đó có các NHTM.
Do đó, khả năng sinh lợi và quy mô lợi nhuận được xem như là các chỉ số về hiệu quả trong việc triển khai các nguồn lực của các NH. Đặc biệt, trong phân tích khả năng sinh lợi các NH cần phải xem xét kết hợp cả lợi nhuận đạt được sau một kỳ hoạt động và các nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH. Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại Khả năng sinh lợi của NHTM thông thường được đo lường bằng các chỉ tiêu sau đây: 8 1. Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân (ROAA) Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân là tỷ số thể hiện mối tương quan giữa khả năng sinh lợi và tài sản bình quân của NH.
ROAA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của NH, cho thấy khả năng chuyển tài sản của NH thành thu nhập ròng (Trần Huy Hoàng, 2011. Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 295). ROAA thể hiện bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và được tính bằng công thức sau: 𝐿𝐿ợ𝑖𝑖 𝑛𝑛ℎ𝑢𝑢ậ𝑛𝑛 𝑟𝑟ò𝑛𝑛𝑛𝑛 ROAA = 𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑡𝑡à𝑖𝑖 𝑠𝑠ả𝑛𝑛 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑞𝑞 â𝑛𝑛 ROAA phản ánh khả năng quản lý của việc sử dụng nguồn lực tài chính và nguồn lực đầu tư thực của NH để tạo ra lợi nhuận (theo Hassan và Bashir, 2003).
Đối với bất kỳ NH nào, ROAA cũng phụ thuộc vào quyết định chính sách của NH cũng như các yếu tố không thể kiểm soát liên quan đến nền kinh tế và quy định của chính phủ. ROAA là một tỷ lệ không bị bóp méo bởi yếu tố vốn chủ sở hữu cao. Hơn nữa, ROAA đại diện tốt hơn trong việc đo lường khả năng của NH để tạo ra lợi nhuận dựa trên danh mục đầu tư tài sản. Chính vì vậy, ROAA được sử dụng làm biến phụ thuộc trong hầu hết các nghiên cứu phân tích khả năng sinh lợi của NHTM như: Hassan và Bashir (2003), Heffernan và Fu (2008), Yong Tan và Christos Floros (2012)….
Kết quả của các nghiên cứu được thực hiện trước đây thể hiện mô hình hồi quy với ROAA đều ý nghĩa và ROAA phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố cả nội sinh lẫn ngoại sinh như: quy mô NH, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tiền gửi khách hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động, mức độ tập trung và sự phát triển của ngành NH, sự phát triển của TTCK, tăng trưởng kinh tế, lạm phát… 1. Tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) Tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của NH, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ bình quân một đồng vốn đầu tư vào NH (Trần Huy Hoàng, 2011. Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 295).
ROAE được tính bằng công thức sau: 9 𝐿𝐿ợ𝑖𝑖 𝑛𝑛ℎ𝑢𝑢ậ𝑛𝑛 𝑟𝑟ò𝑛𝑛𝑛𝑛 ROAE = 𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑣𝑣ố𝑛𝑛 𝑐𝑐ℎủ 𝑠𝑠ở ℎữ𝑢𝑢 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑞𝑞 â𝑛𝑛 Tương tự như ROAA, ROAE cũng được sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi của NHTM như trong các nghiên cứu của IMF (2002), Goddard và các cộng sự (2004), Fu và Heffernan (2010)… và kết quả nghiên cứu cho thấy ROAE cũng phụ thuộc vào các yếu tố như: tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tiền gửi khách hàng, chi phí hoạt động, tăng trưởng kinh tế, lạm phát… Tuy nhiên, ROAE ít được sử dụng hơn so với ROAA. Nguyên nhân là do trong kết quả của các nghiên cứu trước đây thì khả năng giải thích của ROAE thấp hơn so với ROAA. Điều này phù hợp với đặc điểm hoạt động của NH khi mà NH dùng phần lớn nguồn vốn huy động cho các hoạt động kinh doanh của mình, còn tỷ lệ vốn chủ sở hữu thì lại thấp. Chính điều này làm cho dù NH có tỷ lệ ROAE cao thì cũng chưa thể khẳng định là ngân hàng đang kinh doanh tốt hay kém hiệu quả, mặc dù vậy, ROAE vẫn được sử dụng trong đo lường khả năng sinh lợi của NH.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường khả năng sinh lợi của NH từ hai hoạt động kinh doanh truyền thống là huy động vốn và cấp tín dụng. Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của NH với vai trò là một trung gian tài chính. NIM càng cao thì NH càng có nhiều lợi nhuận và được tính bằng công thức sau: 𝑇𝑇ℎ𝑢𝑢 𝑛𝑛ℎậ𝑝𝑝 𝑙𝑙ã𝑖𝑖−𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑝𝑝ℎí 𝑙𝑙ã𝑖𝑖 NIM = 𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑡𝑡à𝑖𝑖 𝑠𝑠ả𝑛𝑛 𝑐𝑐ó sinh 𝑙𝑙ờ𝑖𝑖 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑞𝑞 â𝑛𝑛 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các chủ NH quan tâm, theo dõi vì giúp cho NH dự báo trước khả năng sinh lãi của mình thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Bên cạnh ROAA, ROAE, NIM cũng được sử dụng làm biến phụ thuộc trong mô hình phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM như: Ben Naceur và Goaied (2008), Heffernan và Fu (2010),Yong Tan và Christos Floros (2012)… tuy nhiên mức độ sử dụng có ít hơn so với 2 chỉ số thông dụng là ROAA và ROAE.
Điều này là do NIM được đo lường bằng chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, chưa đề cập đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Hơn nữa, trong thời gian gần đây 10 các NH đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình, bên cạnh hoạt động cấp tín dụng nhiều rủi ro NH còn thực hiện nhiều hoạt động phi lãi như: kinh doanh chứng khoán, góp vốn đầu tư, kinh doanh ngoại hối… Vì vậy, NIM có thể chưa phản ánh chính xác khả năng sinh lợi của các NH. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại Lĩnh vực NH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung. Do vậy, các vấn đề về tình trạng thiếu vốn, một số lượng lớn các khoản nợ xấu, lợi nhuận của ngành NH vẫn thấp cần được xử lý kịp thời.
Giải pháp cho những vấn đề trên là cần có sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngành NH. Chính vì vậy, mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM.