Phần mở đầu Lý do chọn đề tài, đóng góp của để tài cũng như tóm tắt sơ lược luận văn của tác giả. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đây Dựa trên khung lý thuyết được xây dựng nhằm lý giải những hành vi cũng như hành động đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Trên cơ sở khung lý thuyết được tóm tắt, tác giả đã tiến hành tổng kết những nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong và ngoài nước liên quan đến thu hút dòng vốn FDI, từ đó tìm ra khoảng trống và hướng nghiên cứu trong bài luận văn của tác giả. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng độ trễ bậc một của biến phụ thuộc FDI như là một biến độc lập, cho nên mô hình nghiên cứu của tác giả là mô hình hồi quy dữ liệu dạng bảng động DPD và sử dụng phương pháp ước lượng GMM sai phân để phân tích mối quan hệ giữa những biến kinh tế vĩ mô và nguồn vốn FDI.
Tác giả đi từ phương pháp đơn giản nhất OLS để phân tích dữ liệu, cũng như đưa ra quy trình để lựa chọn mô hình phụ hợp với dữ liệu của tác giả. Chương 4: Kết quả nghiên cứu 5 Dựa vào kết quả ước lượng mô hình DPD tác giả trình bày những nhân tố ảnh hướng lớn đến nguồn vốn FDI và so sánh kết quả với những giả thuyết ban đầu mà tác giả đã đề xuất. Chương 5: Kết luận Tóm tắt những kết quả phân tích từ mô hình cũng như hạn chế của luận văn và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 FDI – Đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? Theo ấn phẩm “Cẩm nang cán cân thanh toán của IMF tái bản lần thứ 5” (BMP5) định nghĩa FDI là một loại đầu tư quốc tế phản ánh mục tiêu của một cư dân trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích dài hạn từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Lợi ích dài hạn thể hiện sự tồn tại của một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, và thể hiện một mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư tới việc quản lý doanh nghiệp đầu tư trực tiếp. Mối quan hệ đầu tư trực tiếp được thiết lập khi nhà đầu tư trực tiếp mua 10 phần trăm hoặc nhiều hơn cổ phần thường hoặc là quyền biểu quyết của một doanh nghiệp nước ngoài. Theo Tài chính công ty đa quốc gia - TS Đinh Thị Thu Hồng –chủ biên (2015) Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức) tiến hành đầu tư vào tài sản cố định được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp đó ở nước ngoài. Tóm lại: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là khoản vốn đầu tư được sở hữu và điều hành hoạt động bởi tổ chức nước ngoài.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền (The Theory of Firm-Specific Ownership Advantages) Lý thuyết này được đề xuất bởi Hymer (1960) và đây được xem là nỗ lực đầu tiên trong việc xây dựng một lý thuyết độc lập nhằm lý giải xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hymer đưa ra quan điểm của mình dựa trên nền kinh tế công nghiệp và khẳng định rằng một công ty đa quốc gia muốn vượt qua rào cản quốc tế, tham gia sâu 7 vào quá trình sản xuất thì công ty đó phải có lợi thế độc quyền. Khi công ty đầu tư ra nước ngoài thường có những bất lợi sau: khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển, hiểu biết về thị trường mới còn hạn chế do đó làm tăng chi phí về thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng cũng như hệ thống cung ứng mới đều tốn chi phí hơn các công ty bản địa. Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia vẫn tiến hành việc đầu tư ra nước ngoài một khi có lợi thế độc quyền vì dựa vào lợi thế độc quyền này họ có thể giảm thiểu chi phí và tăng doanh thu so với các công ty bản địa. Lợi thế độc quyền có thể là công nghệ hay nhãn hiệu.
Từ đó, Hymer quan sát thấy rằng FDI xảy ra khi công ty đa quốc gia có lợi thế độc quyền so với đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp, cho phép các công ty này gia nhập vào thị trường các quốc gia khác.3 Lý thuyết nội bộ hóa (Internalization Theory) Lý thuyết nội bộ hóa được Buckley và Casson đề xuất vào năm 1976, lý thuyết này được dựa trên lý thuyết công ty của Coase (1937). Theo đó, giao dịch bên trong công ty (Internal Transaction-IT) tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty (Market Transaction-MT). IT tốt hơn MT khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách địa lý giữa các nước làm tăng chi phí vận chuyển), không hoàn hảo mang tính chất cơ cấu (rào cản thương mại như về tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường, yêu cầu về sở hữu trí tuệ, công nghệ). Khi thị trường không hoàn hảo như vậy, công ty phải tự tạo ra thị trường bên trong, sử dụng tài sản nộ bộ công ty mẹ-con, con-con.
Lợi ích từ việc nội bộ hóa là tránh được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốn người mua. Lý thuyết này lý giải cho việc ưu thích lựa chọn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các MNC khi thị trường tồn tại các bất hoàn hảo, nhằm tối thiểu hóa chi phí và gia tăng tối đa lợi nhuận cho các cổ đông.4 Lý thuyết mô hình triết trung (Eclectic Paradigm) 8 Một mô hình chiết trung, được phát triển bởi Dunning (1988,1995) cung cấp một khung khái niệm có thể được sử dụng để giải thích cho FDI. Mô hình cho thấy thiên hướng của một quốc gia trong việc thu hút FDI là một hàm kết hợp ba biến chính. Đầu tiên là sự tồn tại về lợi thế của quyền sở hữu được thể hiện trong nguồn tài nguyên của doanh nghiệp và tính tiện dụng.
Thứ hai là lợi thế về địa điểm (vị trí địa lý) của nước sở tại, bao gồm tất cả các tài nguyên hữu hình và vô hình nhằm phục vụ cho việc tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn. Và thứ ba là hình thức hoạt động kết hợp ưu thế sở hữu với lợi thế về địa điểm (vị trí địa lý) để duy trì và cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Dunning là một trong những tác giả được tham khảo nhiều nhất trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của những nhà nghiên cứu về FDI, Dunning (1993) cho rằng có ba loại hình FDI chính dựa trên động lực đầu tư theo quan điểm của các công ty đầu tư. Loại hình đầu tiên của FDI được gọi là tìm kiếm thị trường(market- seeking), với mục đích là phục vụ thị trường địa phương và khu vực.
Loại hình FDI này còn có tên gọi khác là FDI theo chiều ngang, nghĩa là liên quan đến việc nhân rộng các cơ sở sản xuất tại nước sở tại. Bởi vì FDI theo chiều ngang phục vụ tốt hơn cho thị trường nội địa bằng sản xuất địa phương, quy mô thị trường và tăng trưởng thị trường của nền kinh tế nước sở tại sẽ đóng một vai trò quan trọng. Một trong những trở ngại trong việc tiếp cận các thị trường địa phương là thuế quan và chi phí vận chuyển cũng đã khuyến khích kiểu FDI này. FDI theo kiểu tìm kiếm thị trường(market-seeking) này có các biến liên quan như: biến quy mô thị trường, thuế, xuất nhập khẩu của thị trường địa phương.
Loại hình FDI thứ hai được gọi là tìm kiếm nguồn lực (resource-seeking): các công ty đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm các nguồn lực không có trong nước, chẳng hạn như: tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, chi phí nhân công rẻ. Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, các tập đoàn đa quốc gia (MNC) đầu tư trực tiếp nước ngoài để 9 xuất khẩu thì việc cân nhắc đến chi phí nhân công trở nên quan trọng. Trái ngược với FDI theo chiều ngang, FDI theo chiều dọc hay định hướng xuất khẩu liên quan đến việc di dời các bộ phận của chuỗi sản xuất sang nước tiếp nhận đầu tư. Vì sự sẵn có của lực lượng lao động với chi phí thấp là động lực khuyến khích cho FDI định hướng xuất khẩu.
Đương nhiên, FDI trong lĩnh vực tài nguyên, chẳng hạn như dầu mỏ và khí tự nhiên, bị thu hút bởi các quốc gia có tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Loại FDI tìm kiếm nguồn lực (resource-seeking) liên quan đến các biến như: chi phí nhân công hay tỷ lệ thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp cao thì tính sẵn lòng làm việc với chi phí thấp) và cơ sở hạ tầng. Loại FDI thứ ba được gọi là tìm kiếm hiểu quả (efficiency-seeking), diễn ra khi công ty đạt được sự quản trị chung các hoạt động bị phân tán theo địa lý trong sự hiện diện của nền kinh tế về quy mô và phạm vi. Năm 1998, Báo cáo đầu tư thế giới, UNCTAD (1998), đã phân tích các yếu tố quyết định FDI và các yếu tố quyết định đến nước tiếp nhận đầu tư đã được phân thành ba nhóm.
Đó là yếu tố chính trị, thuận lợi kinh doanh và các yếu tố kinh tế(Các yếu tố kinh tế bao gồm: GDP, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, cung tiền, tỷ lệ thất nghiệp, xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái,.) Sự thiếu vắng một khuôn khổ lý thuyết được chấp nhận rộng rãi đã khiến các nhà nghiên cứu phải dựa vào các bằng chứng thực nghiệm để giải thích sự xuất hiện của FDI.2 Các nghiên cứu trước đây 2.1 Một số nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014), bài viết nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những quốc gia đang phát triển, bài sử dụng mẫu 30 quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012. Tác giả đã sử dụng mô hình FEM (Fixed Effects 10 Models) và REM (Random Effects Models) với phương pháp ước lượng Pooled OLS và FGLS (Feasible Generalized Least Square) để phân tích dữ liệu dạng bảng với các biến được đưa vào mô hình như: quy mô thị trường, dự trữ ngoại hối, cơ sở hạ tầng, chi phí lao động và độ mở thương mại.