phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI của Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP FDI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm cho vay trong ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại và dịch vụ ngân hàng Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thƣơng mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khắc phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì xuất hiện các thƣơng gia làm nghề đổi tiền.
Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ đƣợc phát triển dần nhƣ giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.(Minh Kiều, 2008) Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thƣơng mại cho thấy, các ngân hàng thƣơng mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế. Theo Pháp lệnh của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Nhƣ vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông 9 qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tƣ và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Theo luật tổ chức tính dụng, khái niệm ngân hàng nhƣ sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Luật tổ chức tín dụng Việt Nam, 2010). Cho đến nay, trên thế giới chƣa có một khái niệm chuẩn hoá nào về dịch vụ ngân hàng. Theo WTO thì định nghĩa về dịch vụ ngân hàng vẫn chƣa tách bạch khỏi dịch vụ tài chính.
Ở Việt Nam từ trƣớc đến nay cũng chƣa có một quy định thống nhất nào liên quan đến định nghĩa về dịch vụ ngân hàng. Có quan điểm cho rằng, dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, nhận tiền gửi,…), các hoạt động khác nhƣ chuyền tiền, thu uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán,…. Tuy nhiên, có rất nhiều quan điểm cho đến thời điêm hiện tại đều quan niệm rằng tất cả các hoạt động tín dụng, nhận tiền gửi, chuyển tiền,…đƣợc cung ứng bởi ngân hàng đều đƣợc coi là dịch vụ ngân hàng, theo đó ngƣời ta định nghĩa nhƣ sau: “Dịch vụ ngân hàng được hiểu theo thông lệ quốc tế đó là các công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay bảo đảm an toàn, đem lại nguồn thu phí cho các tổ chức cung ứng dịch vụ” (Vũ Phƣơng, 2011). Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay, hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một ngƣời thỏa thuận để cho ngƣời khác đƣợc quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với ngƣời đó.(Nguyễn Hiếu, 2012) 10 Tuy nhiên, khái niệm cho vay của các tổ chức tín dụng có phần khác so với cách hiểu chung.
Khái niệm này đƣợc quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại hoạt động cho vay Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại hoạt động cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu thức mà ngƣời ta phân loại hoạt động cho vay nhƣ sau: - Phân loại theo thời hạn cho vay Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay đƣợc phân thành 3 loại sau: + Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm. Cho vay trung hạn chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. + Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đây là loại hình cho vay đƣợc cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhƣ xây dựng nhà ở, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
- Phân loại theo mục đích vay vốn Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay đƣợc phân thành các loại sau: 11 + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thƣơng nghiệp: Là loại hình cho vay nhằm bổ sung vốn cho các DN trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ. + Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ. + Cho vay sản xuất nông nghiệp: Là loại cho vay mà đối tƣợng đƣợc vay vốn nằm trong khu vực nông nghiệp, với mục đích đầu tƣ vào lĩnh vực nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo và từng bƣớc nâng cao đời sống của nhân dân. + Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm các vật dụng đắt tiền.
Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải chi phí thông thƣờng của đời sống thông qua phát hành thẻ cho vay. + Cho vay phục vụ xuất nhập khẩu: Là loại hình cho vay nhằm mục đích tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu. - Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay đƣợc phân thành 2 loại sau: + Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của ngƣời thức ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đó. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp cho vay dựa vào uy tín của bản thân kỹ thuật mà không cần một nguồn thu nợ bổ sung thứ hai.
+ Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm nhƣ thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. 12 - Phân loại theo phƣơng thức cho vay + Cho vay từng lần: Cho vay từng lần là hình thức cho vay tƣơng đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, không có điều kiện để đƣợc cấp hạn mức thấu chi. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ cho vay theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dƣ tối đa tại thời điểm tính. + Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép ngƣời vay đƣợc chỉ trội trên số dƣ tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này đƣợc gọi là hạn mức thấu chi thoả thuận.
- Phân loại theo đối tƣợng tham gia quy trình cho vay + Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu, đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. + Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ đội, hội, nhóm nhƣ nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ… Các tổ chức này thƣờng liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Các phƣơng thức cho vay Ngân hàng thƣơng mại thỏa thuận với khách hàng áp dụng các phƣơng thức cho vay sau: Phƣơng thức cho vay từng lần.
Phƣơng thức cho vay theo hạn mức. Phƣơng thức cho vay theo dự án đầu tƣ. Phƣơng thức cho vay trả góp. Phƣơng thức cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng.
Phƣơng thức cho vay hợp vốn. 13 Cho vay theo hạn mức thấu chi.1 Phương thức cho vay từng lần Mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.