Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng đối với cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng đối với cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 123doc 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CHO VAY ĐẦU TƢ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1.1 Lý luận cơ bản về tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc 1.1 Sự cần thiết của tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại những ưu và khuyết điểm nhất định. Do đó, để đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế nhằm hạn chế những khuyết điểm đồng thời phát huy những ưu điểm vốn có của nền kinh tế thị trường. Để thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế, Nhà nước thường sử dụng các công cụ tài chính như thuế, thu phí, chi Ngân sách Nhà nước (NSNN)…Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực trọng yếu, then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội. Do đó, tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước là một đòi hỏi tất yếu, khách quan trong từng giai đoạn nhất định của quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia.
Sự cần thiết của TDĐT của Nhà nước còn xuất phát từ các nguyên nhân sau: - Xóa bỏ tâm lý ỷ lại, trông chờ vào NSNN của Chủ đầu tư: trước đây trong nền kinh tế bao cấp, sự đầu tư của Nhà nước chủ yếu là dưới hình thức cấp phát trực tiếp không hoàn lại làm cho các Chủ đầu tư thường ỷ lại, không tính toán đến hiệu quả của các dự án cũng như không tích cực, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc thua lỗ, phá sản của hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua là một minh chứng. Chính vì thế mà Nhà nước đã chuyển dần sang hình thức cho vay ưu đãi dưới dạng tín dụng đầu tư nhằm tăng cường tính chủ động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của Chủ đầu tư. - Giảm áp lực cho NSNN: Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước còn nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước còn yếu kém.
Do đó, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường trước những đòi hỏi về tính cạnh tranh ngày càng cao và gay gắt. Vì vậy, Nhà nước cần thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình, giúp các doanh 123doc 5 nghiệp vượt qua khó khăn để hội nhập và trước hết cần tập trung xây dựng hạ tầng cơ sở cần thiết cho nền kinh tế và hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh,…Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp, để giảm bớt áp lực cho ngân sách thì việc thu hẹp hình thức cấp phát, đồng thời mở rộng hình thức TDĐT của Nhà nước cho yêu cầu trên là cần thiết. - Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, cũng như tính cạnh tranh nên có những lĩnh vực, ngành nghề cũng như những vùng miền kinh tế tư nhân sẽ không đầu tư hoặc đầu tư không theo định hướng phát triển của đất nước nếu không có sự hỗ trợ. Với vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô và định hướng phát triển nền kinh tế đất nước, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế hay một ngành, một vùng, một khu vực nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá, hoặc giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Tóm lại: Tín dụng đầu tư của Nhà nước là một hình thức đầu tư rất quan trọng của Nhà nước cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc a/ Khái niệm - Cho vay đầu tư vốn Tín dụng đầu tư (cho vay theo dự án đầu tư): là hình thức cho vay nhằm thúc đẩy nhanh quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Theo đó, các dự án đầu tư của Nhà nước hay của doanh nghiệp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đời sống.nếu tính toán được hiệu quả kinh tế, có tính khả thi nhưng thiếu vốn thì Ngân hàng sẽ cho vay dự án đầu tư, giúp Chủ đầu tư có vốn để hoàn thành dự án đầu tư. - Tín dụng đầu tư của Nhà nước: là một hình thức tín dụng nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay-trả giữa Nhà nước (hiện nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam là đại diện cho Nhà nước) với các 123doc 6 pháp nhân và thể nhân hoạt động trong nền kinh tế, được Nhà nước cho vay với lãi suất ưu đãi cho từng đối tượng cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước. Trước đây, TDĐT của Nhà nước chỉ có một hình thức duy nhất là cho vay đầu tư dài hạn với lãi suất ưu đãi và nguồn vốn chủ yếu là do Ngân sách Nhà nước cấp.
Đến nay, TDĐT của Nhà nước được thực hiện thông qua hai hình thức chính đó là: Tín dụng đầu tư (chủ yếu là cho vay đầu tư) và Tín dụng xuất khẩu. Nguồn vốn Tín dụng đầu tư của Nhà nước ngoài Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm còn được huy động bằng nhiều hình thức khác nhau như phát hành trái phiếu, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay lại ưu đãi của nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền giao để cho vay lại hoặc cho vay theo chương trình tín dụng có mục tiêu, vốn vay của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khác. b/ Bản chất Bản chất của TDĐT của Nhà nước chứa đựng mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội: - Về mặt kinh tế: Tính lợi ích kinh tế vừa thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền vay, vừa được thể hiện gián tiếp dưới góc độ thụ hưởng các tiện ích từ các dự án đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của Nhà nước mang lại. Đồng thời, góp phần phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững theo đúng định hướng.
- Về mặt xã hội: TDĐT của Nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực mà tín dụng Ngân hàng không muốn đầu tư hoặc không thể đầu tư (do dự án đầu tư có quy mô quá lớn, thời hạn cho vay dài, hiệu quả kinh tế đôi khi không được đảm bảo,.) để giải quyết các vấn đề mang tính xã hội của đất nước như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. c/ Đặc điểm Tín dụng đầu tư của Nhà nước có những đặc điểm chính sau: - Là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đầu tư nhằm mục đích hướng đến việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho nền kinh tế. 123doc 7 - TDĐT của Nhà nước có chức năng phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước - TDĐT của Nhà nước gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô và vấn đề quản lý hành chính theo chủ trương của Nhà nước. Do đó tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, cho vay là các đơn vị, cơ quan chuyên môn của Nhà nước (hiện nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam), được Nhà nước cấp vốn điều lệ, cấp bù lãi suất, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tư và phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nước.
- Tính chất ưu đãi của TDĐT của Nhà nước thể hiện ở một số điểm cụ thể như: Quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, điều kiện đảm bảo nợ vay ưu đãi hơn. - Các quy định về cơ chế, chính sách của TDĐT của Nhà nước: + Lãi suất cho vay đầu tư không thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của NHPT. Tổng Giám đốc NHPT tính toán mức lãi suất bình quân các nguồn vốn và chi phí hoạt động báo cáo Chủ tịch Hội đồng quản lý NHPT trình Bộ Tài Chính công bố lãi suất cho vay tín dụng đầu tư. Trường hợp lãi suất huy động bình quân có biến động lớn, Chủ tịch Hội đồng quản lý Ngân hàng Phát triển báo cáo Bộ Tài Chính điều chỉnh lãi suất cho phù hợp.
+ Đối tượng cho vay: Theo quy định của Chính phủ, giới hạn chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế tư nhân không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư do hiệu quả thấp, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu…Về nguyên tắc, TDĐT của Nhà nước chỉ cho vay đối với các dự án đầu tư theo định hướng phát triển của Nhà nước và phải nằm trong kế hoạch đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của Nhà nước hàng năm của Nhà nước. + Nguồn vốn để cho vay: Là vốn ngân sách của Nhà nước được cân đối để cho vay đầu tư, nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ cho đầu tư phát triển theo chủ trương của Nhà nước. 123doc 8 - TDĐT của Nhà nước có tính lịch sử, nó chỉ tồn tại và phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Khi nền kinh tế phát triển, chuyển sang kinh tế thị trường, các nhà đầu tư quen với hoạt động trong môi trường cạnh tranh…thì phạm vi của TDĐT của Nhà nước thu hẹp lại và chuyển đổi sang các hình thức tín dụng khác.