MỞ ĐẦU Với tình hình thị trƣờng chứng khoán biến động mạnh mẽ nhƣ hiện nay, với mục đích đánh giá tổng quan về chính sách cổ tức của doanh nghiệp chịu sự chi phối của những nhân tố nào nhằm góp phần phục hồi nền kinh tế khi đƣa ra đƣợc những giải pháp và chiến lƣợc thúc đẩy các nhà đầu tƣ thực hiện đầu tƣ mạnh dạn hơn vào thị trƣờng, doanh nghiệp thì khôi phục và củng cố đƣợc lòng tin sau những đợt biến động thị trƣờng căng thẳng thời gian vừa qua. Để doanh nghiệp có đƣợc một chính sách chi trả cổ tức đáp ứng nhiều kỳ vọng của các bên liên quan, trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp thì quyết định xây dựng, chi trả nhƣ thế nào về cổ tức chiếm vị trí hàng đầu. Các chủ đề xoay quanh tài chính doanh nghiệp thì các nhà nghiên cứu sẽ chọn chủ đề chính sách tổ tức khá là nhiều, những chính sách thực hiện chi trả cổ tức của doanh nghiệp có khá nhiều tác giả nghiên cứu trên thế giới. Miller và Modigliani (1961) nghiên cứu ở thị trƣờng vốn hoàn hảo thì quyền lợi của các cổ đông không ảnh hƣởng tới tỷ suất cổ tức.
Bên cạnh đó, có những kết quả khác, trong những điều kiện khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau nhƣ: Miller và Scholes (1978) đƣa ra lý thuyết rằng các cổ đông luôn có các yêu cầu không giống nhau về chính sách nên doanh nghiệp cần xây dựng chính sách khác nhau một cách linh hoạt về hình thức thực hiện các mức thuế suất khác nhau. Partington (1985), Baskin (1989) đƣa ra lý thuyết giữa sự tác động của chính sách cổ tức và sự biến động giá cổ phiếu. Nghiên cứu Franklin Muthusamy (2010) nghiên cứu cho ra kết quả tồn tại giữa chính sách cổ tức và ROA là mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Các doanh nghiệp đƣợc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) vẫn chƣa có nhiều các bài nghiên cứu định lƣợng về những nhân tố nào tác động đến chính sách cổ tức tại Việt Nam.
Sau khi tìm hiểu kĩ những bài nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức và những kỳ vọng của thị trƣờng Việt Nam để đi sâu tìm hiểu các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) của 555 doanh nghiệp với 4654 quan sát trong thời gian từ giai đoạn năm 2007 đến năm 2020, tôi mong muốn có thêm các 2 bằng chứng thực nghiệm đa dạng hơn để tìm ra các đề xuất và giải pháp đúng trọng tâm có tầm nhìn về thị trƣờng chứng khoán để giúp doanh nghiệp thực hiện chi trả cổ tức cho các nhà đầu tƣ đúng hạn với mực lợi nhuận cao nhất, góp phần thoã mãn đƣợc các yêu cầu khó tính của thị trƣờng để doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh. Bởi vì chính sách cổ tức của doanh nghiệp là chính sách quan trọng cần đƣợc cân nhắc kĩ lƣỡng, có sự đầu tƣ nghiên cứu để phù hợp với chiến lƣợc phát triển trong ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp, bên cạnh đó chính sách cổ tức luôn đƣợc các nhà đầu tƣ đặc biệt quan tâm, nghiên cứu để thực hiện đầu tƣ có hiệu quả, thu về đƣợc nguồn lợi cổ tức cao nhất. 3 CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Một trong những quyết định của ban điều hành phải đƣa ra đƣợc những chính sách chiến lƣợc về cổ tức để DN có quá trình hoạt động lâu dài và bền vững, hiệu quả hoạt động cao nhất với chi phí thấp nhất để thu hút những nguồn vốn mới tiềm năng. Chính sách cổ tức của DN đƣơc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam của sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) luôn là câu chuyện nóng đƣợc các cổ đông quan tâm cách mở rộng vốn nhƣ thế nào để giảm mức thấp nhất tổn thất trong thời điểm hiện nay.
Cổ tức mà cổ đông nhận đƣợc khi mua cổ phiếu của DN luôn là một trong nhân tố mà cổ đông, những ngƣời đã mở rộng vốn tại DN cũng nhƣ những đối tác tƣơng lai sẽ luôn quan tâm, tìm hiểu kĩ lƣỡng khi thực hiện mua bán cổ phiếu trên thị trƣờng. Chính vì vậy, DN luôn tìm xây dựng định mức trả tỷ suất cổ tức cân đối lợi nhuận để chi trả cho cổ đông và tái đầu tƣ để đáp ứng tối đa đƣợc những yêu cầu khó tính của nhiều cổ đông nhất để thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn mà vẫn cân đối đối đƣợc nhu cầu vồn để DN phát triển mạnh mẽ nhất. Cân đối nguồn lợi nhuận để thực hiện nghĩa vụ với cổ đông nhƣng sẽ không ảnh hƣởng đến cơ cấu nguồn vốn cho kế hoạch mở rộng vốn trong dài hạn của DN và trả cổ tức cần có chính sách hợp lý có thể đảm bảo kế hoạch và lợi nhuận mang lại trong tƣơng lai nhƣng không chi phối quyền lợi của cổ đông đang mở rộng nguồn vốn cho DN. Nhƣ vậy, ban điều hành công ty nên dựa vào những nhân tố nào để xây dựng định mức chi trả cổ cổ tức tối ƣu nhât cho cả cổ đông và DN.
Nhiều nghiên cứu trƣớc đây đƣa ra những kết quả đa dạng, phong phú khi điều kiện nghiên cứu không tƣơng đồng nhƣ Wibowo and Bana (2020) thông số nghiên cứu trong 3 năm liên tiếp 2016 đến 2018 của công ty. Thể hiện cho ta thấy quy mô (SIZE) có ảnh hƣởng thuận chiều (dƣơng) trong khi tính thanh khoản (LIQ), dòng tiền (CF), cơ hội tăng trƣởng (GROW) và đòn bẩy (LEV) lại không tìm đƣợc mối quan hệ với tỷ suất cổ tức mà các cổ đông nhận đƣợc. Mauris và Rizal (2020) cũng tìm ra đƣợc mức ảnh hƣởng giữa đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản, và khả năng sinh lời của doanh nghiệp đến tỷ suất cổ tức; tác giả dùng dữ liệu nghiên cứu bao 4 gồm 124 quan sát của 31 doanh nghiệp từ năm 2016 đến năm 2019 ở Indonesia, nghiên cứu cho thấy kết quả tăng trƣởng tài sản ròng, tính thanh khoản, đòn bẩy tài chính có sự tác động ngƣợc chiều nhƣng không tìm thấy ý nghĩa đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Do vậy, xác định nhân tố nào tác động dƣơng hay âm, có mức ý nghĩa thống kê cao hay thấp tới tỷ suất cổ tức trong giai đoạn này là cần thiết, điều này sẽ giúp cho các nhà quản trị có đƣợc cơ sở hoạch định cho doanh nghiệp một chính sách chi trả cổ tức phù hợp và cân đối đƣợc nguồn lợi nhuận trong xu thế phát triển của thị trƣờng nhiều biến động phức tạp, tạo tiền đề cho sự tăng trƣởng bền vững.
Do đó em đã nghiên cứu về đề tài “Các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”.2 Bối cảnh nghiên cứu Trong tình hình biến động kinh tế hỗn loạn, khó kiểm soát thị trƣờng chứng khoán nhƣ hiện nay. Đầu tƣ lúc này sẽ lo sợ giá cổ phiếu sẽ rớt thảm, chỉ dám đầu cơ lƣớt sóng trong thời gian ngắn thì DN kích cầu nền kinh tế, lấy niềm tin của nhà đầu tƣ tiềm năng. Chính sách cổ tức thể hiện rõ trả lợi nhuận cho cổ đông hoặc giữ lại lợi nhuận để tái đầu tƣ. Nguồn lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức, hoặc doanh nghiệp sẽ tái đầu tƣ, tăng giá trị doanh nghiệp, tăng giá cổ phiếu thì cổ tức nhận đƣợc trong tƣơng lai sẽ tăng.
Xác đinh rõ đƣợc nguyên nhân chính sách cổ tức , điều này sẽ giúp cho những nhà quản lí hoạch định đƣợc chính sách cổ tức thoã mãn đƣợc yêu cầu của nhiều bên liên quan, phù hợp với giá trị và định hƣớng phát triển của doanh nghiệp, tạo tiền đề cho sự tăng trƣởng ổn định và bền vững. Do đó em đã chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”. Tôi nghiên cứu khái quát về chính sách cổ tức, lý thuyết Đại diện và tổng quan của nhiều tác giả về sự tác động giữa tỷ suất hiệu quả hoạt động, tính thanh khoản, cơ hội, quy mô, thuế với chính sách cổ tức của DN để phân tích tác động đến chính sách cổ tức của DN Việt Nam. Nhiều nghiên cứu liên quan đến chính sách cổ tứcT của công ty đƣa ra những kết quả đa dạng, phong phú khi điều kiện nghiên cứu không tƣơng đồng hoặc cho ra nhận xét về một số nghiên cứu khác hẳn với nghiên 5 cứu lý thuyết.
Chính vì thế, tôi mong muốn đƣa ra cơ sở lý thuyết và bằng chứng hoàn chỉnh để tìm ra biến sẽ ảnh hƣởng tới chính sách cổ tức tại Việt Nam trong những thời điểm đa dạng, phong phú, để tạo tiền đề cho sự tăng trƣởng ổn định và bền vững cho DN tại Việt Nam hoạch định cho mình một chính sách cổ tức hài hoà nhất, phù hợp với chiến lƣợc và xu thế cạnh tranh mạnh mẽ nhƣ hiện nay.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu là tìm ra tác động của những nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách cổ tức của DN đƣợc niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán, nghiên cứu về chính sách cổ tức và biến tác động tại DN niêm yết tại Việt Nam trong mối quan hệ với chi phí đại diện và dòng tiền tự do của DN với mong muốn kết quả sẽ cung cấp bằng chứng cho những lập luận trong lý thuyết về dòng tiền tự do và lý thuyết về chi phí đại diện, để tôi tìm đƣợc sự tác động của các biến đến chính sách cổ tức của DN niêm yết trong thực tế phục vụ cho cổ đông bên ngoài đƣa ra những quyết định trong mua cổ phiếu; ban điều hành DN xây dựng chính sách cổ tức ngắn hạn và dài hạn cho DN đƣợc niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) tại Việt Nam.