ĐẶT VẤN ĐỀ Đào tạo liên tục (ĐTLT) là yêu cầu cần thiết đối với bác sĩ và các chuyên gia y tế từ thời cổ đại. Chương trình ĐTLT được hiểu là các khoá đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục, phát triển nghề nghiệp liên tục, đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân (1). Trên thế giới, từ thế kỷ 20, hệ thống bắt buộc trong ĐTLT đối với nhân viên y tế (NVYT) bắt đầu ở Bắc Mỹ, sau đó lan rộng sang Châu Âu. Gần đây hệ thống này tập trung vào nguyên tắc học tập suốt đời của NVYT, nhằm tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ y tế tốt hơn cho người bệnh (2).
Tại Việt Nam, nhận thức được vai trò quan trọng của ĐTLT, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quy phạm phạm luật với những yêu cầu bắt buộc về việc thực hiện tổ chức tập huấn đào tạo, cập nhật kiến thức y khoa liên tục cho NVYT (1,3,4). Bệnh viện (BV) Phụ Sản Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 4951/QĐTC ngày 21/11/1979 của UBND Thành phố Hà Nội. Với vai trò là BV đầu ngành về lĩnh vực sản – phụ khoa trên địa bàn thành phố, đối tượng hộ sinh chiếm số lượng tương đối lớn trong đội ngũ cán bộ, NVYT của BV. Tính đến hết năm 2018, BV có hơn 1000 nhân viên, trong đó số hộ sinh toàn BV là 354 người (1).
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, hộ sinh tại BV tham gia vào hầu hết các nhiệm vụ chuyên môn như đánh giá tình trạng sức khỏe của bà mẹ và thai nhi trong suốt thời kỳ thai nghén và chuyển dạ; cung cấp hỗ trợ giáo dục sức khỏe thích hợp để đảm bảo bà mẹ và thai nhi khỏe mạnh; hỗ trợ người phụ nữ, chồng và gia đình của cô ta trong quá trình đau đẻ, tại thời điểm sinh con và khoảng thời gian sau sinh; theo dõi sản phụ trong quá trình chuyển dạ; đánh giá tình trạng thai nhi và tình trạng của các trẻ sơ sinh sau khi sinh; đánh giá các nguy cơ; phát hiện sớm các bất thường; thực hiện các can thiệp nhỏ, nếu cần thiết, chẳng hạn như bấm ối, cắt tầng sinh môn; chăm sóc trẻ sơ sinh sau khi sinh; hỗ trợ người phụ nữ việc nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc trẻ sơ sinh trong giai đoạn đầu của thời kỳ sau đẻ; v.v… 2 Nhằm giảm thiểu tối đa tai biến và chuẩn hóa quy trình chuyên môn, BV tiến hành rất nhiều chương trình ĐTLT để củng cố và nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành cho nhân viên toàn BV nói chung và các hộ sinh nói riêng. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, BV chưa có nghiên cứu nào được tiến hành về thực trạng và nhu cầu ĐTLT của hộ sinh. Trong khi đó, một số những bất cập về thực trạng ĐTLT đối với NVYT đã được các nhà quản lý và nghiên cứu chỉ ra khi thực hiện đánh giá Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 như các lớp ĐTLT chưa đáp ứng đúng nhu cầu của người học; việc cập nhật, đào tạo kiến thức y khoa liên tục còn diễn ra đại trà, chưa có yêu cầu cụ thể về nội dung đào tạo đối với những chức danh chuyên môn khác nhau; việc theo dõi, quản lý thời lượng tham gia ĐTLT của NVYT như một tiêu chí để duy trì chứng chỉ hành nghề còn nhiều khó khăn, v.v… (5) Những vấn đề trên đặt ra nhiều câu hỏi về hiệu quả của ĐTLT tại BV trong bối cảnh nhiều năm qua, các chương trình ĐTLT tại BV chưa có sự đổi mới về hình thức và nội dung đào tạo chưa được tham khảo nguyện vọng của NVYT trong BV. Chính vì vậy mà việc xác định thực trạng đào tạo và đánh giá nhu cầu đào tạo (NCĐT) của chính đối tượng để đưa ra kế hoạch đào tạo phù hợp, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại BV là vô cùng cần thiết.
Vì những lý do trên, học viên tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của hộ sinh công tác tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020. Xác định nhu cầu đào tạo liên tục của hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Đào tạo liên tục Khái niệm về ĐTLT lần đầu tiên được đưa ra bởi Hiệp hội Y khoa Mỹ. Theo đó, CME - Continuing Medical Education “bao gồm các hoạt động giáo dục để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu quả làm việc và các mối quan hệ mà một bác sĩ sử dụng để cung cấp dịch vụ cho bệnh nhân” (6).
Tuy nhiên, trong 20 năm qua, một số tổ chức y tế trên thế giới đã cảm thấy rằng thuật ngữ CME là quá hạn chế, và CPD - Continuing Professional Development mô tả chính xác hơn những nỗ lực để cho phép các bác sĩ tiếp tục theo đuổi “sự phát triển cá nhân và phát triển nghề nghiệp dẫn đến sự biến đổi của hệ thống chăm sóc sức khoẻ hướng tới việc cung cấp dịch vụ một cách nhân văn, chăm sóc sức khỏe lấy bệnh nhân làm trung tâm và đạt được chi phí - hiệu quả” (7). Hiện nay, hai thuật ngữ CME và CPD vẫn tồn tại song song với nhau, cùng mang ý nghĩa cập nhật kiến thức y khoa liên tục dành cho NVYT. Tại Việt Nam, khái niệm về ĐTLT được quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn việc ĐTLT cho NVYT. Nội dung Thông tư quy định “ĐTLT là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân” (1).
Nhu cầu đào tạo liên tục NCĐT được hiểu là sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có. Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học. Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ (8). 5 Từ nội hàm trên và khái niệm về ĐTLT tại Mục 1.1, khái niệm về nhu cầu ĐTLT có thể được hiểu là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà người học cần có thông qua các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ.
Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho thực hiện đánh giá NCĐT: Đánh giá NCĐT là chỉ ra những kiến thức và kỹ năng mà người làm công việc thực tế cần có để có thể hoàn thành được những chức năng và nhiệm vụ của hệ thống. Đánh giá NCĐT được coi là bước quan trọng đầu tiên mà mỗi cơ sở đào tạo cần thực hiện trước khi đưa ra chương trình học phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh thực tế của công việc (9). Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không quan tâm đến việc người học có thích hay không. Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải đạt tới (9).
Hộ sinh và vai trò, chức năng của hộ sinh Định nghĩa về hộ sinh của Liên đoàn hộ sinh quốc tế (International Confederation of Midwives_ICM) là: “Một hộ sinh là một người đã hoàn thành chương trình đào tạo về hộ sinh mà được công nhận tại quốc gia ở tại nơi đó, dựa trên các năng lực cần thiết của ICM về thực hành đở đẻ cơ bản và khuôn khổ chuẩn mực toàn cầu của ICM về đào tạo đở đẻ; người có trình độ chuyên môn cần thiết để được đăng ký và/hoặc được cấp giấy phép hành nghề hợp pháp trong thực hành việc đở đẻ và sử dụng dưới chức danh hộ sinh” (10). Năm 2015, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 quy định mã số, tiêu chuẩn 6 chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y. Trong đó, “Hộ sinh” là tên gọi nghề nghiệp của viên chức chuyên môn y tế thực hiện chăm sóc, tư vấn trong thời gian mang thai, chuyển dạ, giai đoạn hậu sản và chăm sóc sơ sinh. Cũng theo Thông tư, chức danh hộ sinh tại các cơ sở y tế công lập được xếp theo 3 hạng là hộ sinh hạng II, hộ sinh hạng III và hộ sinh hạng IV (11).
Vai trò của hộ sinh tùy thuộc vào vi trí công tác, tuy nhiên, công việc của họ thường là chăm sóc, tư vấn cho sản phụ, giúp sản phụ phát hiện những rối loạn sinh lý thông thường và đề ra, thực hiện các kế hoạch chăm sóc cụ thể cho từng trường hợp, trực tiếp theo dõi diễn biến cuộc chuyển dạ, chăm sóc nhu cầu sinh lý cơ bản của sản phụ, phát hiện những biến chứng, những dấu hiệu bất thường sớm nhất để xử lý kịp thời các tai biến xảy ra, hạn chế tử vong; chuẩn bị dụng cụ, phụ giúp bác sĩ trong những trường hợp đẻ khó, chăm sóc, duy trì, phục hồi và nâng cao sức khỏe; hướng dẫn sản phụ cho con bú, chăm sóc trẻ sơ sinh trong thời gian nằm viện,… (12).