Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ người bệnh ung thư tại BV Y học Cổ truyền Trung ương

Tìm hiểu nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư năm 2023, các phương pháp hỗ trợ điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ điều dưỡng

2024

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chăm sóc giảm nhẹ

Chăm sóc giảm nhẹ là một tiếp cận toàn diện nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư và gia đình họ khi đối mặt với những căn bệnh đe dọa tính mạng. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, chăm sóc giảm nhẹ bao gồm đánh giá và quản lý các vấn đề về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần. Năm 2023, nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại Việt Nam đang gia tăng, đòi hỏi các cơ sở y tế phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Tầm quan trọng của chăm sóc giảm nhẹ không chỉ giới hạn ở giảm đau mà còn bao gồm cải thiện sức khỏe tâm lý, hỗ trợ xã hội và tinh thần cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa chăm sóc giảm nhẹ

Chăm sóc giảm nhẹ là phương pháp y học tập trung vào việc làm giảm các triệu chứng gây khó chịu và cải thiện chất lượng sống. Khác với điều trị chữa bệnh, chăm sóc giảm nhẹ tập trung vào nâng cao sức khỏe toàn diện của bệnh nhân. Nó được áp dụng song song với các phương pháp điều trị ung thư hoặc độc lập trong các giai đoạn cuối.

1.2. Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở người bệnh ung thư

Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư rất đa dạng, bao gồm quản lý đau, hỗ trợ tâm lý, giáo dục sức khỏe và hỗ trợ xã hội. Theo nghiên cứu năm 2023, phần lớn bệnh nhân cần hỗ trợ về mặt thông tin, tinh thần và tâm lý trong quá trình điều trị.

II. Các nhu cầu cụ thể của người bệnh ung thư năm 2023

Nghiên cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương năm 2023 chỉ ra rằng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Nhu cầu về thông tin là một trong những nhu cầu hàng đầu, khi bệnh nhân cần hiểu rõ về bệnh tình và các phương pháp điều trị. Nhu cầu tâm lýnhu cầu tinh thần cũng rất quan trọng, vì bệnh ung thư gây ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe tâm thần. Ngoài ra, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, nhu cầu xã hộinhu cầu về y khoa cũng cần được chú ý.

2.1. Nhu cầu thông tin và giáo dục sức khỏe

Nhu cầu thông tin của người bệnh ung thư bao gồm việc tìm hiểu chi tiết về chẩn đoán, các phương pháp điều trị khả dụng và những tác dụng phụ có thể xảy ra. Cung cấp thông tin rõ ràng giúp bệnh nhân đưa ra quyết định sáng suốt và tăng cường tuân thủ điều trị.

2.2. Nhu cầu tâm lý và tinh thần

Nhu cầu tâm lý của bệnh nhân bao gồm hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp, tư vấn và trị liệu hành vi. Nhu cầu tinh thần liên quan đến việc tìm kiếm ý nghĩa, mục đích sống và sự chấp nhận bệnh tình. Hỗ trợ tâm linh và tâm lý giúp bệnh nhân đối mặt với căn bệnh một cách tích cực hơn.

2.3. Nhu cầu sinh hoạt hằng ngày và xã hội

Nhu cầu sinh hoạt bao gồm hỗ trợ trong các công việc hàng ngày như vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng và giấc ngủ. Nhu cầu xã hội liên quan đến duy trì mối quan hệ với gia đình và cộng đồng, giúp bệnh nhân không cảm thấy cô lập.

III. Các biện pháp chăm sóc giảm nhẹ hiệu quả năm 2023

Các biện pháp chăm sóc giảm nhẹ hiệu quả cho người bệnh ung thư năm 2023 bao gồm nhiều hình thức khác nhau. Quản lý đau là một trong những ưu tiên hàng đầu, sử dụng các thuốc và kỹ thuật không dùng thuốc. Y học cổ truyền cũng được áp dụng để hỗ trợ điều trị, giúp giảm các triệu chứng và tác dụng phụ. Hỗ trợ tâm lý thông qua tư vấn, trị liệu và nhóm hỗ trợ giúp bệnh nhân cải thiện sức khỏe tâm thần. Ngoài ra, chăm sóc dinh dưỡnghoạt động phục hồi cũng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc giảm nhẹ toàn diện.

3.1. Quản lý đau và triệu chứng

Quản lý đau là yếu tố then chốt trong chăm sóc giảm nhẹ, sử dụng các thuốc giảm đau, kỹ thuật phóng xạ và kỹ thuật can thiệp. Quản lý triệu chứng bao gồm kiểm soát buồn nôn, mệt mỏi và các vấn đề về giấc ngủ để nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân.

3.2. Ứng dụng y học cổ truyền trong chăm sóc giảm nhẹ

Y học cổ truyền cung cấp các phương pháp hỗ trợ như châm cứu, vật lý trị liệu và các bài thuốc thiên nhiên. Y học cổ truyền giúp cân bằng năng lượng, giảm tác dụng phụ điều trị và cải thiện sức khỏe tổng thể của người bệnh ung thư.

3.3. Hỗ trợ tâm lý và xã hội

Hỗ trợ tâm lý bao gồm tư vấn cá nhân, trị liệu nhóm và các chương trình hỗ trợ từ các tổ chức xã hội. Hỗ trợ xã hội giúp bệnh nhân duy trì mối quan hệ, tiếp cận các dịch vụ và cộng đồng.

IV. Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ

Điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư. Họ không chỉ thực hiện các kỹ thuật y tế mà còn cung cấp hỗ trợ tâm lý, tư vấn sức khỏe và giáo dục bệnh nhân. Điều dưỡng đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của từng bệnh nhân, phát triển kế hoạch chăm sóc cá nhân hóa và giám sát hiệu quả của các can thiệp. Năm 2023, vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ được công nhận rộng rãi như một phần không thể thiếu của chăm sóc bệnh nhân toàn diện. Những điều dưỡng viên được đào tạo chuyên biệt có khả năng phát hiện sớm những vấn đề và can thiệp kịp thời.

4.1. Kỹ năng và trách nhiệm của điều dưỡng

Điều dưỡng viên cần có kỹ năng đánh giá toàn diện, giao tiếp hiệu quả và quản lý các triệu chứng phức tạp. Trách nhiệm của họ bao gồm giám sát bệnh nhân, cung cấp chăm sóc sinh hoạt, quản lý thuốc và hỗ trợ tâm lý để cải thiện chất lượng cuộc sống.

4.2. Đào tạo và phát triển chuyên môn

Đào tạo chăm sóc giảm nhẹ cho điều dưỡng viên là cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ. Các chương trình đào tạo tập trung vào kiến thức y học, kỹ năng giao tiếp, quản lý triệu chứng và hỗ trợ tâm lý để điều dưỡng viên có thể cung cấp chăm sóc giảm nhẹ toàn diện và hiệu quả cho người bệnh ung thư.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới [68]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) ước tính có khoảng 10 triệu ca tử vong vì ung thư vào năm 2020, trong số đó hơn 70% trường hợp chết vì ung thư thuộc các nước kém phát triển và đang phát triển [30]. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 182000 ca mắc mới và khoảng 122000 ca tử vong do ung thư mỗi năm [69] nhưng chỉ 5% số người bệnh được điều trị sớm và kịp thời, còn lại đa phần người bệnh phát hiện ung thư ở giai đoạn muộn với tiên lượng điều trị kém. Người bệnh ung thư sau xạ trị, hóa trị và ở giai đoạn cuối thường gặp những triệu chứng phổ biến như đau, nôn ói, suy kiệt, mệt mỏi, … và phải đối mặt với các vấn đề tâm lý như lo âu, trầm cảm làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.

Do đó, cần có những biện pháp hỗ trợ và chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) cho những đối tượng này song song với quá trình điều trị [23]. CSGN là một phần quan trọng của các dịch vụ y tế nhằm giúp giảm bớt đau khổ cho người bệnh và gia đình, cho dù đó là sự đau khổ về thể chất, tâm lý, xã hội, giúp nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ cho người bệnh ung thư. Một số báo cáo đã chỉ ra nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở người bệnh ung thư là rất lớn [23],[63],[67]. Mỗi năm ước tính có khoảng 40 triệu người có nhu cầu CSGN với khoảng 80% người bệnh sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trong đó có Việt Nam [13].

Tuy nhiên, do nguồn lực y tế còn hạn chế nên việc thực hành chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư tại các cơ sở y tế hiện nay còn gặp nhiều thách thức. Đặc biệt, CSGN cho người bệnh ung thư còn là lĩnh vực mới ở Việt Nam và chưa có nhiều công trình nghiên cứu. Tìm hiểu về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư và xác định các yếu tố liên quan nhằm giúp nhân viên y tế (NVYT) có kế hoạch tăng cường chăm sóc người bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống và cung cấp cơ sở dữ liệu giúp các cán bộ quản lý xây dựng chính sách y tế hỗ trợ kịp thời cho những đối tượng này. Nền y học cổ truyền (YHCT) đã tồn tại lâu đời tại châu Á cũng như Việt Nam, với nhiều phương pháp được ứng dụng trong hỗ trợ điều trị, cải thiện dinh dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh mắc ung thư.[17] Đặc biệt, YHCT có vai trò bổ trợ trong chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng như đau, chảy 1 Thư viện ĐH Thăng Long máu, gầy sút, mất ngủ, chán ăn,…vv… cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Do đó, lựa chọn YHCT trong chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư đang là xu hướng mới, đem lại hiệu quả tích cực giúp người bệnh ung thư cải thiện chất lượng cuộc sống trong những năm tháng cuối đời. Nhằm tìm hiểu “Các nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư ra sao ?”, “Các biện pháp chăm sóc giảm nhẹ bằng Y học cổ truyền nhu thế nào ?” cũng như “Các yếu tố nào ảnh hưởng tới nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của đối tượng này ?”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại khoa Kiểm soát và Điều trị Ung bướu bệnh viện Y học cổ trung Trung ương năm 2023” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của NB ung thư tại khoa Kiểm soát và Điều trị Ung bướu, bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương năm 2023. Phân tích một số biện pháp chăm sóc giảm nhẹ và một số yếu tố liên quan.

Tổng quan về bệnh ung thư 1. Đại cương về ung thư Trên thế giới, theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu GLOBOCAN năm 2020 ước tính có khoảng 19,3 triệu ca mắc mới và 10 triệu ca tử vong do ung thư. Trong đó phổ biến nhất là ung thư vú, ung thư phổi, đại trực tràng, tiền liệt tuyến và dạ dày [32],[58]. Theo số liệu công bố của GLOBOCAN năm 2020, mỗi năm Việt Nam có hơn 182000 ca mắc mới và khoảng 122000 người tử vong vì ung thư.

Trong đó, ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tiền liệt tuyến (chiếm 59,5% tổng các loại ung thư) phổ biến ở nam giới. Còn ung thư vú, phổi, đại trực tràng, dạ dày, gan (chiếm khoảng 59,4% tổng các loại ung thư) phổ biến ở nữ giới [69],[33]. Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư. Ung thư đặc trưng bởi sự tăng sinh của các tế bào ác tính một cách mất kiểm soát, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát và điều hòa của cơ thể [19].

Bệnh ung thư hình thành các khối u ác tính có khả năng xâm lấn vào các tổ chức lành tính xung quanh và tế bào ung thư có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa thông qua hệ thống tuần hoàn hình thành các khối u mới [19]. Theo vị trí, có khoảng hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt.vv… Theo loại tế bào nguồn, ung thư được chia thành 5 nhóm chính: ung thư biểu mô (carcinoma), ung thư mô liên kết (sarcoma), ung thư máu (leukaemia), ung thư hạch và tủy (lymphoma, myeloma) và ung thư não và tủy sống (brain and spinal cord cancers) [19],[35]. Qua một số nghiên cứu dịch tễ học đã thống kê một số tác nhân gây ung thư bao gồm: Yếu tố di truyền; Yếu tố nội tiết; Tác nhân vật lý; Tác nhân hóa học; Yếu tố nghề nghiệp. Nhiều loại hóa chất trong công nghiệp, thực phẩm, chiến tranh, các chất thải ra môi trường và không khí gây ra nhiều loại ung thư khác nhau.

Tác nhân sinh học: virut sinh ung thư như virus Epstein-Barr gây ung thư vòm họng, u lympho ác tính, virus viêm gan B, virus viêm gan C gây ung thư gan, virus gây u nhú, HPV gây ung thư cổ tử cung; ký sinh trùng như sán Schistosoma gây ung thư bàng quang và vi khuẩn Helicobacter Pylori gây ung thư dạ dày. [35] 3 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Các giai đoạn tiến triển của ung thư Xác định các giai đoạn của ung thư có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch điều trị, lập kế hoạch chăm sóc và góp thêm thông tin vào việc đánh giá khả năng tái phát – di căn của khối u cũng như tiên lượng bệnh. Hiện nay, có hai hệ thống đánh giá chính về giai đoạn tiến tiến của ung thư được quốc tế công nhận và sử dụng phổ biến là hệ thống TNM (tumor-node-metastasis) và hệ thống số [61].

Hệ thống TNM là viết tắt của khối u, hạch, di căn dùng để mô tả kích thước của khối u ban đầu và sự phát triển tại chỗ hay xâm lấn (T), mô tả mức độ di căn hạch bạch huyết (N) và mô tả sự xuất hiện di căn xa (M). Trên lâm sàng, kích thước của khối u được mô tả từ nhỏ đến lớn theo ký hiệu từ Tx, Tis, T1,2,3,4; di căn hạch bạch huyết được đánh giá theo mức độ từ không đến rất nhiều theo ký hiệu từ Nx, N0,1,2,3; di căn xa được đánh giá không hoặc có theo ký hiệu Mx, M0,1. Ngoài ra, một số ung thư còn có phân chia thêm giai đoạn nhỏ với các ký hiệu a,b,c (ung thư phổi, ung thư vú…) [61]. Hệ thống số được ký hiệu theo số la mã từ I-IV phân loại các giai đoạn của ung thư dựa trên hệ thống TNM.

Trong đó, giai đoạn I: Khối u còn nhỏ và chưa xâm lấn. Khi phát hiện ung thư ở giai đoạn này, người bệnh có tiên lượng tốt hơn, tuổi thọ tốt và thậm chí có thể chữa khỏi được. Giai đoạn II: Khối u có kích thước lớn hơn giai đoạn I nhưng chưa di căn đến các mô, cơ quan khác. Tuy nhiên, với một số loại ung thư, giai đoạn 2 khối u có thể đã xâm lấn vào hạch bạch huyết lân cận.

Giai đoạn III: Khối u lớn hơn và đã bắt đầu xâm lấn các mô xung quanh, đồng thời di căn sang hạch bạch huyết lân cận. Giai đoạn IV: Giai đoạn tế bào ung thư đã di căn xa. Hầu như không thể loại bỏ hết ung thư ở giai đoạn này [61]. Điều trị ung thư Mỗi loại ung thư và mỗi giai đoạn tiến triển có những phương pháp điều trị khác nhau tương đối phức tạp.

Một số phương pháp điều trị ung thư phổ biến gồm: điều trị phẫu thuật, điều trị tia xạ (xạ trị), điều trị hóa chất (hóa trị), điều trị miễn dịch; ngoài ra có thêm một số phương pháp mới như điều trị nội tiết (liệu pháp hormone), điều trị đích, ghép tế bào gốc hay ghép tủy xương, công nghệ nano, liệu pháp gen…[22]. - Phẫu thuật là biện pháp điều trị nhằm loại bỏ khối u hoặc làm giảm kích thước khối u trước khi tiến hành xạ trị hay hóa trị, thường áp dụng cho ung thư ở giai đoạn 4 sớm, chưa có di căn. Phẫu thuật có ưu điểm là loại bỏ gần như hoàn toàn khối u, hạn chế khả năng xâm lấn, giảm áp lực cho các tạng xung quanh và cho phép sinh thiết mô bệnh học để chẩn đoán cũng như xác định chính xác mức độ giai đoạn ung thư. Tuy nhiên, phẫu thuật cũng có một số nguy cơ và biến chứng như: đau đớn, nguy cơ nhiễm trùng, chảy máu, làm tăng khả năng di căn xa của tế bào ung thư và có thể tái phát [25].

- Xạ trị là phương pháp sử dụng các tia X hoặc gamma để tiêu diệt tế bào ung thư, áp dụng cho những ung thư ở giai đoạn muộn hơn, thường xạ trị trước phẫu thuật với mục đích thu nhỏ kích thước khối u hoặc tiêu diệt nốt những tế bào u tại chỗ và hạch khu vực khi nghi ngờ. Tuy nhiên, xạ trị gây ra biến chứng tùy theo cơ quan đích, các triệu chứng thường gặp như rụng tóc, nôn và buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, khô và đỏ rát da, chảy máu,…[43]. - Điều trị hóa chất thường áp dụng cho ung thư ở giai đoạn muộn, di căn xa hoặc ở một số ung thư dễ di căn ở giai đoạn sớm như ung thư vú, tinh hoàn, buồng trứng. Hóa trị có vai trò tiêu diệt, làm chậm quá trình phát triển của khối u, và làm giảm các triệu chứng chèn ép và xâm lấn ở người bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ